Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Từ những năm 90 của thế kỷ XX, thuật ngữ KNS đã được xuất hiện trong các chương trình hành động giáo dục của Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEP). Trước tiên là chương trình “Giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ.
Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất một quan niệm chung về KNS cũng như đưa ra một bản danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có. Tác giả Nguyễn Huỳnh Mai– Liège, Bỉ [32] trong bài Kỹ năng sống cho học sinh bậc Tiểu học - Kinh nghiệm từ một nhà giáo ở Bỉ (www.vn) đã chỉ ra cách dạy và định hướng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học tại Bỉ và khẳng định một trong những sứ mạng của trường tiểu học là giúp cho trẻ tự lập và tạo điều kiện, tạo môi trường để trẻ phát triển KNS. Cho trẻ học KNS và kỹ năng tự lập sẽ hình thành cho trẻ nhân cách tốt [14]. Tác giả Diane TillMan: “Giáo dục các giá trị sống để có kỹ năng sống ngày càng được nhìn nhận là có sức mạnh vượt lên khỏi lời răn dạy đạo đức chi tiết đến mức hạn chế trong cách nhìn hoặc những vấn đề thuộc về tư cách công dân.
Nó đang xem là trung tâm của tất cả thành quả mà giáo viên và nhà trường tâm huyết có thể hy vọng đạt được thông qua việc dạy về giá trị, KNS” [19]. Hội nghị giáo dục Thế giới đã thông qua Kế hoạch hành động Giáo dục cho mọi người - gọi tắt là Kế hoạch Dakar, bao gồm 6 mục tiêu [46]. Trong đó, mục tiêu 3 nêu rõ: Đảm bảo nhu cầu học tập cho tất cả các thế hệ trẻ và người lớn được đáp ứng thông qua bình đẳng tiếp cận với các chương trình e 7 học tập và chương trình kỹ năng sống thích hợp Hội nghị Thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em, họp ngày 20 – 30/03/1990 tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York đã tuyên bố: “Tất cả trẻ em trên thế giới đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc. Đồng thời các em ham hiểu biết, ham hoạt động và đầy ước vọng.
Tuổi của các em phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển. Tương lai của các em phải được hình thành trong sự hoà hợp và hợp tác”. Như vậy có thể thấy, các quốc gia cũng mới bước đầu triển khai chương trình và biện pháp GDKNS nên chưa thật toàn diện và sâu sắc, vì chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng KNS ở người học sau khi được trang bị hay huấn luyện KNS. Các nghiên cứu ở trong nước Kỹ năng sống và giáo dục KNS đã được quan tâm từ lâu ở Việt Nam.
Tuy nhiên vấn đề này đến nay mới thực sự trở nên cấp thiết vì nguy cơ, thách thức của cuộc sống hiện đại đặt ra. Từ năm 2002-2003, ở Việt Nam đã thực hiện đổi mới GD phổ thông (Tiểu học và Trung học cơ sở) trong cả nước. Trong chương trình GD Tiểu học mới đã hướng GDKNS thông qua lồng ghép một số môn học có tiềm năng như: Đạo đức, Tự nhiên - Xã hội (ở lớp 1-3) và môn Khoa học (ở lớp 4-5). Tác giả Ngô Thị Tuyên đã chỉ ra rằng: Kỹ năng sống là sản phẩm bắt buộc phải có của giáo dục nhà trường.
Tác giả đưa ra khái niệm về kỹ năng sống, các loại kỹ năng sống, vị trí vai trò của KNS trong giáo dục nhà trường, phương pháp GDKNS và trình bày phương pháp xây dựng một chương trình học tập, nguyên tắc chọn nội dung và hướng dẫn giáo viên phương pháp giáo dục cho trẻ bằng việc làm để có được sản phẩm là KNS [50]. Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thúy Hằng thì học sinh phải tham gia chủ động vào các hoạt động giáo dục e 8 kỹ năng sống mới làm thay đổi hành vi của các em. Tài liệu cũng đưa ra các phương pháp giáo dục giá trị sống, KNS và cách thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học [30]. Tác giả Nguyễn Thanh Bình khẳng định về yêu cầu cụ thể đổi mới chương trình nội dung và phương pháp, trong đó: “Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng vào học tập chủ động, chống thói quen thụ động, đồng thời coi dạy học thông qua tổ chức hoạt động của học sinh là đặc trưng thứ nhất của phương pháp dạy học tích cực” [7].
Tác giả Nguyễn Dục Quang cho rằng: “Cách thức giáo dục kỹ năng sống được hiểu bao gồm những phương pháp tiếp cận, các phương pháp dạy học tích cực và các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cần quan tâm đến vai trò của người học” [41]. Tác giả Vũ Minh đã chỉ ra vai trò quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho HSTH và những bất cập trong việc triển khai GDKNS cho học sinh khi chưa có một giáo trình thống nhất và bản thân giáo viên còn rất lúng túng trong việc GDKNS lồng ghép vào các môn học [34]. Tuy nhiên tác giả chưa nghiên cứu và đưa ra những giải pháp cụ thể khắc phục tình trạng này. Từ năm 2000, chủ đề GDKNS cho HS được bàn thảo và nghiên cứu ngày càng nhiều.
Bộ GD&ĐT xác định GDKNS cho HS là một trong những nội dung chính thức của GD phổ thông. Từ năm học 2007–2008, Bộ GD&ĐT đã chính thức phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” [11]. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt e 9 chính trị, văn hóa xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích với hiệu quả cao nhất” [27, tr.
Theo tác giả Hà Sĩ Hồ: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [24]. Khudomixki cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” [26]. CÔNG CỤ CHỦ THỂ KHÁCH THỂ QUẢN LÝ MỤC TIÊU QUẢN LÝ (ĐỐI TƯỢNG) PHƯƠNG PHÁP Sơ đồ 1.1: Mô hình hóa khái niệm quản lý Tóm lại, quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được các mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. Chức năng quản lý: Các nhà khoa học và quản lý đã đưa ra những quan điểm khác nhau về phân loại chức năng quản lý.
Theo quan điểm truyền thống, H.Flayol đã đưa ra 5 chức năng quản lý. Theo quan điểm của tổ chức UNESCO, hệ thống chức năng quản lý bao gồm 8 vấn đề. Còn theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì có 4 chức năng. Tuy nhiên, quan điểm nào cũng đề cập tới bốn chức năng chủ yếu, cơ bản như: * Kế hoạch hóa: Là việc làm đầu tiên của người quản lý, làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch.
Đây là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành động của cả tổ chức. Là quá trình thiết lập các mục tiêu, con đường, biện pháp, cách thức và các điều kiện để thực hiện các mục tiêu đó. * Tổ chức (nhân sự, bộ máy): Chức năng tổ chức trong quản lý là việc thiết kế cơ cấu các bộ phận sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức. Tùy theo tính chất công việc, có thể tiến hành phân công, phân nhiệm cho các cá nhân, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận, mối quan hệ giữa chúng (liên kết ngang, dọc và việc bố trí cán bộ - người vận hành các bộ phận của tổ chức).
* Chỉ đạo (điều hành, điều khiển): Đây là khâu quan trọng tạo nên thành công của kế hoạch dự kiến. Chính ở khâu này, người quản lý sử dụng quyền lực quản lý để tác động đến các đối tượng bị quản lý (con người, các bộ phận) một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng vào việc đạt mục tiêu chung của hệ thống. * Kiểm tra: Là chức năng xuyên suốt quá trình quản lý và cũng là chức năng của mọi cấp quản lý, kể cả đối với nhà quản lý ở cơ sở giáo dục như trường học. Kiểm tra là hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định.
Công việc này gắn bó với sự đánh giá, tổng kết kinh nghiệm, điều chỉnh mục tiêu. Giáo dục Giáo dục theo nghĩa rộng là giáo dục xã hội, được coi là lĩnh vực hoạt động của xã hội nhằm truyền đạt những kinh nghiệm xã hội - lịch sử chuẩn bị cho thế hệ trẻ trở thành lực lượng tiếp nối, sự phát triển xã hội kế thừa và phát triển nền văn hóa của loài người và dân tộc. GD hiểu theo nghĩa hẹp là giáo dục trong nhà trường, đó là quá trình tác động có tổ chức, có kế hoạch, có quy trình chặt chẽ nhằm mục đích cung cấp kiến thức, kỹ năng, hình thành thái độ, hành vi kỹ năng sống cho HS, xây dựng và phát triển nhân cách theo mô hình mà xã hội đương thời mong muốn.