Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÒA NHẬP THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Trong hơn bốn thế kỷ qua, tuỳ thuộc vào sự phát triển của từng thời kỳ lịch sử, giáo dục HSKT đã trải qua ba mô hình giáo dục khác nhau. Thế kỷ XVI, mô hình giáo dục chuyên biệt ra đời, đánh dấu một bước phát triển mới của giáo dục HSKT với tính tích cực, ưu việt và phù hợp với tính lịch sử của nó.
Đến những năm 40 của thế kỷ XX một mô hình giáo dục HSKT ra đời: mô hình giáo dục hội nhập với đổi mới tích cực hơn. Cũng trong những năm 70 của thế kỷ XX, mô hình GDHN được ra đời. Từ sau năm 1994, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về GDHN, cách thức tổ chức và QL GDHN.Brohier (1994) đã đề nghị: Cần theo dõi và đánh giá thường xuyên sự tiến triển của các chương trình GDHN nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. Trong nghiên cứu của mình tác giả đã đề cập và nêu ra những mục tiêu chung nhất về GDHN, cách thức thực hiện, các điều kiện đảm bảo cho thực hiện GDHN và những tiêu chí đánh giá công việc này.
Sudesh Mukhopadhyagy (1999) cũng đã kết luận: Việc nhận dạng và phát hiện HSKT cần được phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong nước và các tổ chức phi Chính phủ. Việc làm này cần được đưa vào kế hoạch của mỗi năm học và được xem như một phần của kế hoạch giáo dục chung của nhà trường. Ý kiến trên được tác giả nêu ra dựa trên cơ sở nghiên cứu, mô tả và định ra những tiêu chí phân loại khuyết tật, mức độ tật. Với những khuyến nghị công tác nhận dạng và phát hiện HSKT cần được thực hiện một cách có kế hoạch, định kỳ và tham gia của các tổ chức, cơ quan chuyên môn.
Đồng thời cũng định hướng chung cho việc thực hiện GDHN trong trường phổ thông trên cơ sở xây dựng kế hoạch thực hiện năm học của mỗi nhà trường [dẫn theo 33, tr75]. Peter Mittler đã nhận định: Thay đổi môi trường giáo dục nhà trường và hệ thống giáo dục là rất quan trọng đối với GDHN. Việc thay đổi này bao gồm việc sửa đổi chương trình và phương pháp dạy học, thúc đẩy mối quan hệ giữa thầy và trò, tạo cơ hội Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn để mọi HS được học tập cùng nhau và thúc đẩy sự tham gia của phụ huynh. Trong đó đặt ra các vấn đề hết sức cụ thể như chương trình cần được điều chỉnh và sắp xếp thế nào cho phù hợp; giáo viên cần lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học như thế nào, các phương pháp dạy học đang được thực hiện trong trường phổ thông có đảm bảo cho HSKT học hoà nhập, sự tác động can thiệp, hỗ trợ từ phía giáo viên và vai trò, sự tham gia của phụ huynh HSKT cũng như HS bình thường [dẫn theo 13, tr81].
Prubudddha Bharata (2005) cho rằng: Để GDHN đạt hiệu quả, cần chú ý vào ba lĩnh vực sau: Các chương trình giáo dục phổ thông và các chương trình giáo dục đặc biệt, chuẩn bị và cung cấp các thiết bị, dụng cụ hỗ trợ giảng dạy, phát triển các kỹ năng bổ sung như: đọc, viết chữ nổi, định hướng di chuyển, kỹ năng sinh hoạt hàng ngày. Tác giả đã hướng nhiều đến thực hiện chương trình giáo dục trong GDHN, đặt ra các vấn đề như GDHN được thực hiện chương trình giáo dục phổ thông có điều chỉnh hay có thêm chương trình giáo dục đặc biệt bên cạnh chương trình giáo dục phổ thông; sự cần thiết của các phương tiện, thiết bị đồ dùng dạy học và các kỹ năng đặc thù hỗ trợ cho GDHN. Ông cũng cho rằng kỹ năng xã hội, kỹ năng sống là mục tiêu hết sức quan trọng mà GDHN cần đạt được [dẫn theo 13, tr94]. Sandra Lewis và Carol B.
Allman: Sau khi giáo dục chuyên biệt ổn định cần hướng tới GDHN. GDHN với chương trình, sự hỗ trợ, cách đánh giá đúng sẽ tạo được sự độc lập cho HSKT. Quan điểm của tác giả được thể hiện rất rõ coi GDHN là mô hình giáo dục tối ưu nhất dành cho HSKT. Từ việc đặt ra và thực hiện tốt ba yếu tố: chương trình giáo dục; tác động hỗ trợ từ các lực lượng trong và ngoài nhà trường; đánh giá về kiến thức, kỹ năng.
Sẽ đảm bảo được sự hoà nhập và độc lập của HSKT trong và sau khi ra trường [dẫn theo 12, tr76]. Nhìn chung các nghiên cứu nêu trên mới chỉ tập trung ở việc nghiên cứu mô hình GDHN HSKT và cách thức tổ chức, điều kiện thực hiện. mà chưa có những nghiên cứu chuyên sâu vào vấn đề QL việc thực hiện GDHN và QL GDHN thông qua HĐDH trong nhà trường phổ thông nói chung, nhà trường TH nói riêng. Những nghiên cứu ở Việt Nam Năm 2005, tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến đã nghiên cứu “Vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho GDHN ở Việt Nam” [42].
Trong nghiên cứu này tác giả chỉ rõ thực trạng công tác GDHN ở Việt Nam, thực trạng nguồn nhân lực phục vụ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn cho công tác GDHN, sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực phục vụ công tác GDHN, những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của đội ngũ thực hiện công tác GDHN. Bài nghiên cứu đã nêu những vấn đề khái quát và dự báo về xu hướng phát triển của GDHN và những yêu cầu cấp thiết phải đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công tác này. Năm 2010, tác giả Lê Thị Thuý Hằng nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp tổ chức GDHN cho HSKT trong trường TH hiện nay” [16]. Trong nghiên cứu của mình, trên cơ sở nghiên cứu lý luận về công tác tổ chức, tổ chức trong nhà trường phổ thông và tổ chức GDHN.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác tổ chức GDHN tại một số huyện, tác giả đã đưa ra một số giải pháp tổ chức GDHN cho HSKT trong trường TH. Năm 2010, tác giả Lê Thị Thanh Tâm nghiên cứu đề tài: “Biện pháp QL GDHN HSKT tại các trường TH thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh” [29]. Trong công trình tác giả đã phân tích và tổng hợp các vấn để lý luận liên quan đến QL GDHN, đánh giá thực trạng công tác QL GDHN HSKT tại thị xã Uông Bí, những nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng đến QL GDHN. Trên cơ sở đó, tác giả cũng đã đưa ra một số biện pháp QL GDHN HSKT tại các trường TH thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Tác giả Nguyễn Trường Phi, năm 2012, đã nghiên cứu đề tài: “Biện pháp nâng cao chất lượng GDHN HSKT tại trường TH Hải Vân, thành phố Đà Nẵng” [25]. Trong đề tài nghiên cứu, tác giả đi vào phân tích các lý luận về GDHN, đánh giá thực trạng công tác GDHN và chất lượng GDHN cho HSKTVĐN tại trường TH Hải Vân. Những phân tích và đánh giá thực trạng của tác giả đã phần nào nêu lên bức tranh khái quát về những hạn chế trong chất lượng GDHN HSKT ở các trường TH. Những biện pháp đề xuất của đề tài tập chung vào việc nâng cao chất lượng công tác GDHN HSKT tại cơ sở và tập chung chủ yếu vẫn là chất lượng đội ngũ giáo viên tham gia GDHN HSKT.
Tác giả Huỳnh Ngọc Trà với đề tài “Các biện pháp QL GDHN HSKT ở bậc TH tỉnh Quảng Nam” (năm 2014) [35]. Tác giả đã đề cập đến các vấn đề về QL, QL GDHN cho HSKT ở cấp TH trên địa bàn một tỉnh. Từ đó đề xuất sáu giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng, hiệu quả GDHN HSKT cấp TH tại tỉnh Quảng Nam. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Tác giả Hà Thanh Vân (năm 2014) nghiên cứu “Một số biện pháp QL GDHN HS khiếm thị của hiệu trưởng các trường TH ở TP Hồ Chí Minh” [dẫn theo 29].
Trong phần trình bày của mình, tác giả dành sự quan tâm và tập trung nghiên cứu vào đối tượng HS khiếm thị. Thực trạng về nhận thức; điều kiện cơ sở vật chất cơ sở thiết bị; hoàn cảnh; biện pháp QL.đối với GDHN HS khiếm thị cấp TH. Đề xuất được các giải pháp QL GDHN HS khiếm thị của hiệu trưởng các trường TH tại Tp. Hồ Chí Minh.
Năm 2015 tác giả Phùng Minh Ngọc nghiên cứu đề tài: “QL công tác GDHN HSKT tại các trường TH trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà nẵng” [dẫn theo 29]. Trên cơ sở khái quát các vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề QL công tác GDHN, tác giả đã phân tích thực trạng công tác QL GDHN HSKT về mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục, các điều kiện hỗ trợ công tác GDHN. Trong công trình nghiên cứu, tác giả cũng đã đề xuất một số biện pháp tập chung chủ yếu vào công tác QL GDHN HSKT, đặc biệt tác giả tập chung vào QL kế hoạch cá nhân, xây dựng tăng cường hệ thống QL GDHN… Tác giả Nguyễn Hồng Kiên nghiên cứu đề tài: “GDHN ở trường TH cho HS mồ côi sống ở các cơ sở bảo trợ xã hội” (năm 2016 ) [22]. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã khái quát các vấn đề lý luận về GDHN, đặc biệt phân loại HS có nhu cầu đặc biệt, đó là những HS bị bỏ rơi, HS mồ côi sống ở các cơ bảo trợ xã hội, những HS này có những khó khăn đặc biệt về tâm lý do hoàn cảnh mang lại, các em có nhu cầu tham gia học hòa nhập tại các trường TH.
Tác giả đã đánh giá trạng số lượng HS mồ côi được tham gia GDHN, nội dung, chương trình, hình thức GDHN, chất lượng công tác GDHN HS mồ côi sống ở các cơ sở bảo trợ xã hội học hòa nhập tại các trường TH… Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các biện pháp chuyên biệt nhằm GDHN cho đối tượng HS này. Nhìn chung, các tác giả nêu trên đã nghiên cứu và đề cập đến việc tổ chức và QL GDHN cho HSKT trong trường TH từ nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên còn rất ít các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề GDHN thông qua HĐDH cho HSKTVĐN và những HS có KKĐBVTL ở các trường TH. Do vậy, việc nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung về lý luận và thực tiễn cho công tác QL GDHN thông qua HĐDH cho HS ở cấp TH.
Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.