phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm 3 chương: - Chƣơng 1. Cơ sở lí luận về quản lí giáo dục đạo đức thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh trung học phổ thông. Thực trạng quản lí giáo dục đạo đức thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Biện pháp quản lí giáo dục đạo đức thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh trung học phổ thông vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông Mỗi cộng đồng trên thế giới đều có những qui tắc, chuẩn mực đạo đức riêng. Do có sự khác biệt về giá trị đạo đức giữa các cộng đồng trên thế giới nên vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh trong trường học ở các cộng đồng khác nhau c ng được nhìn nhận, đánh giá dưới nhiều quan điểm khác nhau.
Dawson (1994) trong bài viết “Moral Education: A Review of Constructivist Theory and Research” (Giáo dục đạo đức: Một tổng quan về lí thuyết và nghiên cứu của nhà phát triển) [83] đã trình bày tổng quan nhất về những nghiên cứu và lí thuyết phát triển đạo đức trên thế giới, và đánh giá những ảnh hưởng của nó đối với giáo dục đạo đức. Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh ảnh hưởng của môi trường giáo dục đối với sự phát triển đạo đức của thế hệ trẻ. Những môi trường giáo dục mà trong đó thúc đẩy sự phát triển đạo đức của học sinh phải bao gồm một sự kết hợp giữa hành động đạo đức và sự phản ánh, tức là trải nghiệm (làm và suy ngẫm). Năm 1996, bản “Tuyên ngôn giáo dục nhân cách” (Character Education Manifesto) ở Đại học Boston, Mĩ [94] đã tạo ra ảnh hưởng lớn đối với vấn đề giáo dục đạo đức trên thế giới.
Tuyên ngôn chỉ ra rằng, việc ban thẩm quyền về giáo dục đạo đức cho giáo viên và nhà trường, việc khôi phục giá trị đạo đức trong chương trình học thông qua làm sáng tỏ giá trị và thảo luận về các tình huống song đề về đạo đức đã không còn phù hợp, không tăng cường được nhân cách và hành vi của học sinh. Các giáo viên và nhà trường không thể nhận trách nhiệm một mình về những vấn đề đạo đức của học sinh như vấn đề bạo lực gia tăng, hoạt động tình dục sớm, tự tử,. mà gia đình và cộng đồng phải chia sẻ với nhau nhiệm vụ này. Do vậy, bản tuyên ngôn công nhận hàng loạt nguyên tắc hướng dẫn cải cách giáo dục nhân cách gồm: 1/ Giáo dục theo nghĩa đầy đủ nhất là một doanh nghiệp đạo đức (một nỗ lực liên tục để hướng dẫn học sinh theo đuổi điều gì là tốt, là có giá trị); 2/ Cha mẹ là nhà giáo dục chính của con mình và nhà trường nên xây dựng mối quan hệ hợp tác với gia đình; 3/ Giáo dục nhân cách là phát triển các “đức tính” (Virtue) - những thói quen và khuynh hướng để chịu trách nhiệm và trưởng thành; 4/ Giáo viên, Hiệu trưởng là trung tâm của doanh nghiệp này và phải được giáo dục, tuyển chọn và khuyến khích với sứ mệnh này; 5/ Giáo dục nhân cách không phải là một khóa học đơn nhất, nó là cuộc sống học đường, do đó trường học phải là một “cộng đồng nhân đức” (Communities 10 of Virtue); 6/ Cộng đồng nhân loại có một tài nguyên trí tuệ đạo đức có thể được tìm thấy trong những câu chuyện hay, các tác phẩm nghệ thuật, văn chương, lịch sử, tiểu sử.; 7/ Học sinh cần nhận ra rằng rèn luyện nhân cách của mình là nhiệm vụ thiết yếu và đòi hỏi của cuộc sống.
Trong cuốn sách nổi tiếng trên thế giới về giáo dục đạo đức có tên “Taking Religion Seriously Across the Curriculum” (tạm dịch: Nhận lấy tôn giáo nghiêm túc qua chương trình đào tạo) của Nord, W. Trong đó, nhóm tác giả trình bày riêng một chương về giáo dục đạo đức (Chapter 9: Moral Education). Nhóm tác giả cho rằng, giáo dục đạo đức trong trường học có hai nhiệm vụ quan trọng là: 1/ Xã hội hóa đạo đức (Moral Socialization) - xã hội hóa trẻ em trong những hành vi đạo đức, nuôi dưỡng ở thế hệ trẻ những đức tính và giá trị để trở thành những người tốt; 2/ Cung cấp cho học sinh những thông tin, tài nguyên trí tuệ để giúp họ đưa ra các phán xét có trách nhiệm về những vấn đề khó khăn có tầm quan trọng đạo đức. Để hỗ trợ cho giáo viên trong giảng dạy nhằm thực hiện được cả hai nhiệm vụ nêu trên, Nord & Haynes đã đưa ra một phác thảo ngắn hình ảnh về một lí thuyết về giáo dục đạo đức (Theory of moral education) gồm các nét chính: 1/ Trường học phải giúp phát triển những con người tốt (trung thực, có trách nhiệm và tôn trọng nhau); 2/ Yêu nước; 3/ Nền giáo dục dân chủ (nuôi dưỡng sự hiểu biết và tự phán xét về những xung đột); 4/ Hình thức giáo dục đạo đức phù hợp với sự trưởng thành của học sinh; 5/ Sự lựa chọn những vấn đề đạo đức cấp bách của giáo viên.
Tuy chưa đưa ra được một lí thuyết cụ thể, nhưng phác thảo của Nord & Haynes là có đóng góp hết sức quan trọng đối với một nền giáo dục đạo đức theo hướng tiến bộ. Wilson (2000) trong bài viết “Methodology and Moral Education” (Phương pháp luận và giáo dục đạo đức) [109] đã đưa ra lập luận về một thủ tục cho giáo dục đạo đức gồm 5 bước: 1/ Xác định ý nghĩa, vùng ảnh hưởng của đạo đức; 2/ Thiết lập những hoạt động để mang lại hiệu quả tốt; 3/ Xây dựng các phương pháp đánh giá thực tế; 4/ Thử nghiệm các phương pháp giáo dục đạo đức; 5/ Đưa ra các khuyến nghị thực tiễn. Kết quả nghiên cứu của Wilson rất hữu ích cho giáo viên, nhà nghiên cứu để định hướng, lựa chọn phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh. Devine (2006) trong bài viết “What is moral education” (Giáo dục đạo đức là gì) đã lập luận [84]: Đạo đức là luôn thay đổi theo sự phát triển của xã hội, nó ảnh hưởng đến nội dung đạo đức, quá trình đạo đức và cuối cùng là giáo dục đạo đức như một vòng xoắn không bao giờ kết thúc cùng với sự thay đổi của cuộc sống.
Tôn giáo được ví như người bảo vệ tuyệt vời nhất cho sự ổn định của đời sống đạo đức trong nhiều thế kỉ để phân định rõ ràng giữa đúng và sai. Những giá trị đạo đức vẫn luôn thay đổi cùng với tiến bộ đời sống xã hội, những lí tưởng c chỉ có thể tồn tại cho đến nay trước khi con người gặp phải một tình thế mới. Những tình thế mới (như những khám phá của Copernicus, Darwin, Einstein và những người khác) làm giác ngộ giá trị đạo 11 đức của con người, nhưng tôn giáo thường chống lại sự thay đổi, dùng quyền lực để gây ảnh hưởng đối với nội dung đạo đức của con người, vì vậy nó làm chậm lại sự tiến bộ của giá trị đạo đức, và xem đạo đức như tôn giáo dường như đã trở thành lỗi thời. Devine cho rằng, giáo dục đạo đức phải là sự hiểu biết các qui tắc đạo đức và biết về những gì mình sẽ làm khi đối diện với tình thế của cuộc sống, họ có thể cần sự giúp đỡ nhưng không bị trói buộc.
Sự giúp đỡ có thể đến từ cha mẹ, giáo viên nhưng cuối cùng học sinh phải trở thành “nhà giáo dục đạo đức” (Moral educator) của chính mình. Cuốn sách: “Đạo đức học” của tác giả G.Bandzeladze [dẫn theo 16], đã phân tích và luận giải về vai trò của đạo đức, làm sáng tỏ nhiều hiện tượng đạo đức xã hội c ng như mối quan hệ giữa đạo đức với “tính người” của con người. Trong đó, ông nhấn mạnh đến đặc trưng của đạo đức: “Đạo đức của con người là năng lực phục vụ một cách tự giác và tự do những người khác và xã hội” Và ông coi “đạo đức là hệ thống những chuẩn mực biểu hiện sự quan tâm tự nguyện tự giác của những con người trong quan hệ với nhau và trong quan hệ với xã hội nói chung”. Căn cứ vào sự phân tích quan hệ giữa đạo đức và chính trị, pháp lý, nghệ thuật,… G.Bandzeladze chỉ rõ những đặc điểm cụ thể của nội dung đạo đức, từ đó khẳng định: đạo đức là đặc trưng bản tính của con người, chỉ con người mới có đạo đức, do đó nó không thể không phản ánh những đặc trưng của bản tính người (hiểu theo nghĩa bản chất tiêu biểu và tốt đẹp nhất của con người).
Theo ông, đạo đức bắt nguồn từ chỗ con người quan hệ với người khác như quan hệ với chính mình. Trong quan hệ với mình, con người không thể nào tư lợi thì trong quan hệ đạo đức với người khác, con người c ng không thể tư lợi. Do đó, đặc trưng cơ bản nhất, bản chất nhất của đạo đức là “chí công vô tư”; “Bản chất của đạo đức là sự quan tâm tự giác của những con người đến lợi ích của nhau, đến lợi ích của xã hội. Khác với hành động bản năng của loài vật, hành vi đạo đức là ở chỗ: sự quan tâm tự giác đến hạnh phúc của những người khác có tính chất tự nguyện” [dẫn theo 16].
Những quan niệm hiện đại về đạo đức và giáo dục đạo đức ở Việt Nam được bắt nguồn từ những tư tưởng về đạo đức của Hồ Chí Minh [37], [38]. Bác nhấn mạnh những nét đạo đức căn bản nhất của cán bộ cách mạng là: Nhân - Nghĩa - Trí - D ng - Liêm; hay đối với người lao động là: Cần - Kiệm - Liên - Chính. Bác cho rằng, những nét đạo đức này thì phải trải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Bác xem đạo đức là một nguyên lí phải theo trong quan hệ giữa người với người, tức là nó tồn cả ở mặt khách quan và chủ quan.
Muốn xây dựng đạo đức mới thì phải: 1/ Tu dưỡng đạo đức bền bỉ thông qua thực tiễn cách mạng; 2/ Nói đi đôi với việc làm; 3/ Đấu tranh với những hiện tượng phi đạo đức. Lê Trọng Ân (2004) khi nghiên cứu về “Quan điểm của V.Lênin về đạo đức và văn hóa của giai cấp công nhân” [3] c ng nhấn mạnh, đạo đức không phải là cái gì đó nảy sinh hư vô, chúng có nguồn gốc khách quan và chủ quan xác định.