CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Ở phương Đông từ thời cổ đại, Khổng Tử đã nhận thức được vai trò quan trọng cảu đạo đức đối với sự phát triển của xã hội và của từng con người.
Trong học thuyết Nho gia Người đã nhấn mạnh tất cả mọi vấn đề đều lấy đạo đức làm chuẩn (Đoàn Quang Thọ, 2010). Ở phương Tây, thời cổ đại cũng xuất hiện nhiều quan điểm, nhiều học thuyết lớn về đạo đức. Nhà triết học Socrat đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau. Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức (Đoàn Quang Thọ, 2010).
Aristoste cho rằng không phải hy vọng vào thượng đế áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất, phát triển những quyền lợi chính trị, khoa học mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức (Đoàn Quang Thọ, 2010). Theo John Locke thì GDĐĐ được xem là một vấn đề quan trọng nhất “chủ yếu là xây dựng đạo đức và một thế cân bằng trong tâm tính”, nếu đạo đức, tâm tính được xây dựng tốt và có chiều hướng phát triển tốt thì mọi việc đều trôi chảy (Thái Duy Tuyên, 2007). Pétxtalôđi một trong những nhà giáo dục tiêu biểu của thế kỷ XIX đã đánh giá rất cao vai trò của GDĐĐ. Ông cho rằng nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục là giáo dục đạo đức cho trẻ em dựa trên cơ sở chung nhất là tình yêu về con người.
Tình yêu ấy bắt nguồn từ gia đình, trước hết là đối với cha mẹ, anh chị rồi đến bạn bè và mọi người trong xã hội (Hà Nhật Thăng và Đào Thanh Âm, 1998). Học thuyết giáo dục của C.Ăngghen đề ra nguyên tắc cơ bản để giáo dục những con người phát triển toàn diện trong xã hội đó là sự kết hợp một cách hợp lí giữa giáo dục đạo đức, thể dục, trí dục và lao động sản xuất (Hà Nhật Thăng và Đào Thanh Âm, 1998). 7 Từ những quan điểm về đạo đức của các nhà tư tưởng trên thế giới cho thấy việc GDĐĐ và quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS là hết sức cần thiết. Như vậy có thể thấy cả phương Đông và phương Tây đều rất chú trọng, đề cao vấn đề đạo đức và qua GDĐĐ hình thành và phát triển nhân cách con người.
Nghiên cứu ở trong nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một di sản vô cùng quý báu trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực. Đặc biệt là vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cách mạng. Người coi đạo đức của con người như gốc của cây, như nguồn của sông. Người nói rằng con người cần đạo đức, cách mạng cần đạo đức, rất cần đạo đức.
Người luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng và tích cực của đạo đức trong đời sống xã hội. Hồ Chí Minh chỉ rõ “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” (Đinh Xuân Dũng, 2006). Triết lí giáo dục Việt Nam thời phong kiến luôn coi đạo đức là giá trị hàng đầu, sống theo lí tưởng nhân nghĩa, yêu thương con người (Thái Duy Tuyên, 2007). Kế thừa các quan điểm, tư tưởng về đạo đức và giáo dục đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong những năm gần đây Đảng ta đã cụ thể hóa những nội dung, quan điểm đó thành những Chỉ thị, Nghị quyết. Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) xác định: “Giáo dục, đào tạo phải hướng cân đối giữa “dạy người”, dạy chữ, dạy nghề, trong đó “dạy người” là mục tiêu cao nhất” (Đảng cộng sản Việt Nam, 1997). Đặc biệt Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 03-CT/TW ngày 14 tháng 5 năm 2011 phát động cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương, đạo đức Hồ Chí Minh, trong đó nêu rõ những nội dung chủ yếu cần thực hiện là “Coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ. Cấp ủy, chính quyền, mặt trận và đoàn thể các cấp có biện pháp cụ thể để tổ chức, chỉ đạo thực hiện tốt việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ theo tấm gương đạo đức Bác Hồ” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2011).
Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương khóa XI, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ và giải pháp “Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo dức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2013). 8 Ngoài ra còn có rất nhiều các đề tài nghiên cứu về quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS ở cấp trung học cơ sở (THCS) và THPT của các nhà nghiên cứu, nhà quản lí giáo dục. Đề tài “Cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân” của tác giả Phạm Tất Dong đã đi sâu vào nghiên cứu cơ sở tâm lí học của hoạt động giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp, gắn kết các hoạt động này với hoạt động GDĐĐ nhằm đạt được mục tiêu GDĐĐ nghề nghiệp và lí tưởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ; đã mang lại nhiều nội dung mới về GDĐĐ, chính trị tư tưởng trong các trường từ tiểu học đến đại học những năm đầu thập niên 90.
Luận án tiến sĩ “Quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục” của tác giả Nguyễn Thị Thi (2017) đã nghiên cứu lí luận, thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lí GDĐĐ cho HS trường THCS thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Luận án tiến sĩ “Giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới giáo dục hiện nay” của tác giả Đỗ Tuyết Bảo (2001) đã đề cập đến vai trò GDĐĐ với sự hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, tác động đổi mới của xã hội với GDĐĐ cho HS trường THCS tại Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sĩ “Quản lí hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học cơ sở Quang Húc, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Đỗ Thị Việt Hà (2017). Luận văn thạc sĩ “Quản lí hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông Hùng Vương Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay” của tác giả Nguyễn Vân Yên (2015) đã khái quát cơ sở lí luận, nêu lên được thực trạng quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS ở trường THPT Hùng Vương Quận 5 và đề xuất các biện pháp quản lí đáp ứng theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay.
Luận văn thạc sĩ “Quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học cơ sở tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long” của tác giả Võ Hồng Lĩnh 9 (2018) đã đánh giá được thực trạng đạo đức, hoạt động GDĐĐ cho HS và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS trường THCS tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Các nghiên cứu trên đã chỉ ra thực trạng đạo đức HS, thực trạng GDĐĐ và quản lí hoạt động này ở nhiều cấp học khác nhau, ở nhiều địa phương khác nhau và đã đề ra những biện pháp quản lí hoạt động GDĐĐ mang tính hiệu quả, khả thi ở từng cấp học và địa phương đó. Tuy nhiên, tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS THPT. Để kế thừa và phát triển các nội dung của các tác giả đi trước đã nghiên cứu, đề tài “Quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học phổ thông Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh” với mong muốn cùng với lí luận và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS ở các trường THPT trên địa bàn Quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Đạo đức Theo sách giáo khoa Giáo dục Công dân lớp 10 thì: “Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, của xã hội” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006). Theo quan điểm của đạo đức học Mác-Lênin “Đạo đức là một hiện tượng xã hội phản ánh các quan hệ xã hội hiện thực, hình thành từ trong cuộc sống. Đạo đức là phạm trù thuộc về đời sống tinh thần.
Trong triết học, đạo đức được coi là một hình thái ý thức xã hội” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006). Theo tác giả Trần Hậu Kiểm: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội. Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu xã hội. Nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội” (Trần Hậu Kiểm và Đoàn Đức Hiếu, 2004).
10 Đạo đức bao gồm bởi các thành tố: ý thức đạo đức, tình cảm, niềm tin đạo đức và hành vi đạo đức. Các thành tố này có quan hệ biện chứng với nhau. Ý thức đạo đức: là toàn bộ những quan niệm về đạo đức và những chuẩn mực, quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với nhau. Là sự thể hiện thái độ nhận thức, hiểu biết về các chuẩn mực đạo đức, hành vi phù hợp với các chuẩn mực, quy tắc của xã hội đã được qui định trước.
Thông qua ý thức đạo đức con người tự điều chỉnh hành vi của mình (Nguyễn Văn Tuyên, 2011). Tình cảm, niềm tin đạo đức: là hình thái biểu hiện cơ bản của ý thức đạo đức, là yếu tố quan trọng, là động lực thúc đẩy cá nhân, thể hiện những ý thức đạo đức qua những hành vi của mình (Nguyễn Văn Tuyên, 2011).