phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở. Chƣơng 2: Thực trạng của việc quản lý sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh Trường THCS Thị trấn Lương Bằng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh.
13 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƢỜNG VỚI GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề. Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là sự tác động có định hướng, có mục tiêu, có tổ chức, có kế hoạch. Đó là quá trình hoạt động có sự kết hợp đồng bộ vai trò chủ đạo của người thày với sự tự giác, tích cực chủ động và rèn luyện của HS nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ.
Luật giáo dục năm 2005 nêu rõ mục tiêu GD được xác định: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, có sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [34]. Ở Phương Đông (điển hình là Trung Quốc) từ thời cổ đại vấn đề đạo đức và GDĐĐ được đặt lên hàng đầu trong triết lý nhân sinh. Khổng Tử (551-479) người đại diện của Nho giáo đã chuyên tâm nghiên cứu về con người và đạo đức. Quan điểm triết học của Khổng Tử hướng về mục đích tối thượng là việc giáo dục đạo đức cho con người và khẳng định: “Cũng như viên ngọc dù nó là một tài sản quý hiếm nhưng cũng phải mài dũa thì mới trở thành đồ dùng có giá trị.
Con người nếu không được GD thì cũng không biết đạo lý làm người” (Ngọc bất trác bất thành khí. Nhân bất học bất tri đạo) [10, tr. Theo ông người quân tử phải có nhân, lễ, nghĩa, trí tín và xã hội (nhà vua và triều đình phong kiến) phải chú trọng đến những đức tính đó cho con người. Theo giáo sư Vũ Khiêu thì: “Xưa nay chưa có một học thuyết đạo đức nào lại có tác dụng lâu bền đến như thế” [49, tr.
Ở phương Tây, nhiều triết gia và các nhà sư phạm đã dày công nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức, Coomenky (1592 - 1670), nhà sư phạm lỗi lạc 14 z của phương Tây thế kỷ XVII đã cống hiến cả cuộc đời mình để nghiên cứu về GD nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng. Đóng góp của ông cho nhân loại chính là tấm gương về đạo đức của cuộc đời mình là những phương pháp giáo dục đạo đức cho người thầy mà ông đã khẳng định “Nếu anh không như một người cha thì cũng không thể là một người thầy” [13, tr. Tiếp thu những tư tưởng nhân văn, đạo đức của các bậc tiền nhân, trong các tác phẩm, các bài báo bằng tấm gương của chính cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một điển hình và thực sự trở thành hình mẫu về nhân cách, đạo đức của mỗi người dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh đến những giá trị đạo đức cách mạng là nhân, nghĩa, trí, dũng và cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Các tác giả như GS. Đào Duy Anh, GS. Cao Xuân Huy, GS. đều có những điểm chung khi nghiên cứu về con người Việt Nam và giáo dục đạo đức ở nhà trường chúng ta hiện nay.
Đặc biệt, chương trình khoa học cấp nhà nước KX - 07 thuộc nhóm nghiên cứu của GS, TS Nguyễn Quang Uẩn, GS, VS Phạm Minh Hạc đã tập trung nghiên cứu về con người Việt Nam trong bối cảnh xã hội chuyển sang nền kinh tế thị trường, mở cửa, đổi mới đã xác định đặc trưng nhân cách con người Việt Nam dựa trên quy mô khảo sát lớn; Các tác giả như GS Hoàng Đức Nhuận, PGS, TS Phạm Khắc Chương đã có nhiều đóng góp về lý luận đạo đức và giáo dục đạo đức trong nhà trường hiện nay. GS Đặng Vũ Hoạt trong công trình “Đổi mới công tác GVCN với việc giáo dục đạo đức cho HS” năm 2002, đã khẳng định vai trò của GVCN trong việc giáo dục đạo đức cho HS và đưa ra những định hướng cho GVCN trong việc đổi mới nội dung, cải tiến phương pháp giáo dục đạo đức cho HS trong nhà trường phổ thông. Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải coi trọng nhân tố con người, coi trọng tài năng, sức khỏe và phẩm chất đạo đức. Chăm lo GD thế hệ trẻ, nhất là HS, sinh viên đáp ứng nhu cầu những giai đoạn phát triển mới của đất nước là nhiệm vụ của toàn xã hội và việc QL sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội là một nguyên tắc cơ bản bảo đảm sự thành công của công tác GD.
15 z Nghiên cứu về QLGD luôn được các học giả trong và ngoài ngành GD quan tâm, các công trình nghiên cứu GD của các nhà khoa học hàng đầu Việt Nam về GD như: “Cơ sở khoa học quản lý giáo dục” của tác giả GS. Nguyễn Minh Đạo, “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” của tác giả PGS. Nguyễn Ngọc Quang, “Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình” của tác giả PGS. Đặng Quốc Bảo, “Lý luận quản lý giáo dục” của tác giả PGS.
Nguyễn Thị Mỹ Lộc, “Những giá trị về tổ chức quản lý” của tác giả Vũ Văn Tảo,. thực sự là những công trình nghiên cứu đầu ngành và căn bản về QLGD, mang lại những hiệu quả nhất định cho công tác QLGD nói chung và công tác trong QL nhà trường nói riêng. Thông báo kết luận 242-TB/TW ngày 15/4/2009 của Ban Chấp hành Trung ương về thông báo kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và phương hướng phát triển giáo dục đào tạo đến năm 2020 khi nói về vấn đề yếu kém của giáo dục và đào tạo đã nêu: “Việc GD tư tưởng đạo đức, lối sống, về truyền thống văn hóa, lịch sử dân tộc, về Đảng, về quyền lợi và nghĩa vụ công dân cho HS, sinh viên chưa được chú ý đúng mức cả về nội dung và phương pháp; GD phổ thông mới chỉ quan tâm nhiều đến “dạy chữ”, chưa quan tâm đúng mức đến “dạy người”, kỹ năng sống và “dạy nghề” cho thanh thiếu niên [17]. Thực tế hiện nay mọi gia đình đều mong muốn con em mình học đến nơi đến chốn, cố gắng tạo điều kiện cho con em học tập.
Tuy nhiên, cũng còn tồn tại một bộ phận không nhỏ các gia đình ít quan tâm, thậm chí không quan tâm đến việc GD con em. Về phía xã hội, mọi người đều mong muốn có những công dân tốt, không vi phạm đạo đức, kỷ luật, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật. Bộ Giáo dục và Đào tạo có cuộc vận động “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực”. Tuy nhiên việc phối hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội còn nhiều lúng túng, cần phải nghiên cứu.
16 z Chính vì vậy, trong những năm qua đã có nhiều tác giả để tâm nghiên cứu về sự kết hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội nhằm nâng cao chất lượng GD cho HS như đề tài nghiên cứu khoa học của GS Hà Thế Ngữ, GS Đức Minh, GS Đặng Vũ Hoạt, PGS Hà Nhật Thăng, GS Nguyễn Quang Uẩn đã đề cập đến vai trò hết sức quan trọng của sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội để nâng cao hiệu quả GD cho HS từ những năm 80 của thế kỷ XX. Vào những năm 90 của thế kỷ XX phải kể đến một công trình nghiên cứu “Mô hình liên kết các lực lượng giáo dục của Thành uỷ Hà Nội do tập thể các GS, PGS như Hà Nhật Thăng, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Quang Uẩn phụ trách tiến hành trong 5 năm (1985-1990) với mục tiêu tổ chức, chỉ đạo việc liên kết các lực lượng nhằm xây dựng môi trường GD ở các cấp từ thành phố xuống cộng đồng dân cư. Những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu của “Trung tâm nghiên cứu GDĐĐ công dân” của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, một số luận văn, luận án. Những công trình trên chủ yếu tập trung phân tích ý nghĩa, yêu cầu của việc liên kết các LLXH nhằm thực hiện chương trình hoạt động GD ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông, ở một góc độ nào đó các công trình ấy đã đề cập đến vấn đề QL sự phối hợp, nhưng chưa bàn cụ thể xác định biện pháp quản lý GDĐĐ cho HS THCS.
Trong công tác QL của ngành GD, ngày 23 tháng 12 năm 2008, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chỉ thị số 71/2008/CT-BGDĐT về tăng cường phối hợp nhà trường với gia đình và xã hội trong công tác GD trẻ em, HS, sinh viên. Để triển khai chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và trước thực tế về tình hình GDĐĐ của HS hiện nay, đã có nhiều hội nghị, hội thảo đã đưa ra những giải pháp để phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội nhằm nâng cao hiệu quả của công tác GDĐĐ cho HS. Ngày 26 tháng 11 năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức Hội thảo khoa học “Về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác GDĐĐ, lối sống, phòng chống tội phạm, bạo lực trong HS phổ thông”. Hội thảo được nhiều học giả và cán bộ QLGD cùng các giáo viên tham gia nhằm tìm ra các giải pháp để GDĐĐ cho HS.
Một trong những giải pháp 17 z chung được rút ra từ hội thảo đó là tăng cường mối quan hệ, phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc QL và GD HS. Nghiên cứu công tác QL việc phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong GDĐĐ cho HS Trường THCS Thị trấn Lương Bằng, Kim Động, Hưng Yên là một bước tiếp tục trong nghiên cứu QLGD và áp dụng thực tế QLGD vào thực tiễn của một cơ sở GD nhằm góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện cho HS để đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ mới.