Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý luận của việc xây dựng nhân cách đạo đức cho học sinh ở trường THPT Chương 3: Thực trạng xây dựng giáo dục nhân cách đạo đức cho học sinh ở Trường THPT Ung Văn Khiêm, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Chương 4: Một số giải pháp nhằm xây dựng nhân cách đạo đức cho học sinh ở trường THPT Ung Văn Khiêm, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 4 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG NHÂN CÁCH ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG UNG VĂN KHIÊM, HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG 2.1 NHÂN CÁCH ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG NHÂN CÁCH ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Nhân cách và nhân cách đạo đức 2.1 Nhân cách Nhân cách là khái niệm chỉ bao hàm phần xã hội, tâm lí của cá nhân, đó là một con người với tư cách là một thành viên của một xã hội nhất định; là chủ thể của các quan hệ người - người, của hoạt động có ý thức và giao lưu. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về nhân cách. Theo Arixtôt (384 - 322 TCN) - nhà Triết học cổ đại Hy Lạp - khi ông cho rằng, con người là động vật chính trị. Ở đây, bước đầu ông đã thấy được vai trò của tác động xã hội, của giáo dục đào tạo đối với sự phát triển con người là một nhân cách.
Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lần đầu tiên, hai nhà tâm lý học người Đức Dilthey và Spranger mới đưa ra khái niệm nhân cách. Theo hai ông, nhân cách là cái “mặt nạ” có tính chất xã hội của cái tôi bên trong, khi nào cái “mặt nạ” đó trùng với cái tôi thì nhân cách phát triển chín muồi (Lương Quỳnh Khuê, 1995). Đến nay, nhân cách được nghiên cứu, định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau, những đại biểu nổi tiếng như: S.Freud với thuyết “Phân tâm học” coi bản chất nhân cách là thuộc tính sinh vật hay sinh vật hóa bản chất nhân cách, J.eysenck coi nhân cách là một dạng nào đó của ý thức trí tuệ và ý thức đạo đức thực hiện sự tự chủ trong bối cảnh tương tác; A.dler với thuyết “Siêu đẳng bù trừ”, G.Allport với thuyết “đặc trưng”. Đại biểu nổi tiếng nhất của chủ nghĩa nhân bản triết học tư sản thế kỷ XX là M.Sêlơ - một nhà triết học Đức - cho rằng: “Bản chất vốn có của con người không gắn với tồn tại của nó về mặt sinh vật và xã hội mà nằm trong tinh thần của nó, trong khả năng của con người trở thành nhân cách”.
Theo quan niệm của ông con người không tồn tại thực mà con người chỉ là một bộ phận của thực tại tinh thần. Nhìn chung, các học thuyết trên hoặc xem nhân cách như là sự đáp ứng nhu cầu sinh học thuần túy, hoặc xem nhân cách chỉ có tính chất thuần túy của cá nhân con người mà không thấy được tính quyết định của vai trò xã hội trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người (Chủ nghĩa xã hội và nhân cách, 1993). Theo từ điển tiếng Việt thì nhân cách là tư cách và phẩm chất con người (Hoàng Phê, 1994). Dưới góc nhìn giáo dục học, nhân cách được xem là tổ hợp của những phẩm chất và năng lực, là đạo đức và tài năng được kết tinh ở mỗi con người.
Các nhà tâm lí học theo quan điểm của Mác - xít đều cho rằng khái niệm 5 nhân cách phải là một phạm trù xã hội chứ không thể thuần tâm lí. Con người sinh ra không phải đã có sẵn nhân cách và cũng không phải nó bộc lộ dần từ các bản năng nguyên thủy. Leonchiev, nhà tâm lý học nổi tiếng người Nga thì “Nhân cách là cái được hình thành, không phải cái được sinh ra”. Nhân cách là một cấu tạo tâm lý được hình thành và phát triển trong quá trình sống, hoạt động giao tiếp của mỗi người (Wikipedia.org, Nhân cách là gì?).
Theo các nhà xã hội học thì nhân cách là một thứ giá trị được xây dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong xã hội, nó đặc trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên trong con người nhưng lại mang tính xã hội sâu sắc (Wikipedia.org, Nhân cách là gì?). Như vậy, có thể nói nhân cách là phẩm chất bên trong, là giá trị của một người, nó được hình thành qua giáo dục, rèn luyện và các hoạt động giao tiếp trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong xã hội. Nhân cách vì vậy vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội. Tuy nhiên, trên lập trường triết học mác xít, giữa các nhà khoa học cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về nhân cách: Chẳng hạn “Nhân cách là hệ thống những phẩm giá xã hội của cá nhân thể hiện trong cá nhân, ngoài cá nhân, thông qua hoạt động giao tiếp của cá nhân ấy” (Nguyễn Ngọc Bích, 1995).
“Nhân cách là toàn bộ những đặc điểm tâm lý của cá nhân đã hình thành và phát triển từ trong các quan hệ xã hội” (Sổ tay Tâm lý học, 1990), và có hàng trăm định nghĩa khác nhau về nhân cách và mỗi ngành khoa học lại tiếp cận nhân cách từ góc độ nghiên cứu đặc thù của mình, đi sâu vào mặt này, hoặc mặt khác của nhân cách, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu của ngành đó. Khi bàn về vấn đề con người, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đặc biệt chú ý tới bản chất xã hội của con người, lý giải các quan hệ xã hội tham gia vào sự hình thành bản chất ấy cũng như vai trò của thực tiễn và hoạt động thực tiễn. Nhân cách là sự thống nhất biện chứng giữa yếu tố xã hội và cá nhân trong mỗi con người. Sự thống nhất này tạo điều kiện cho quá trình hình thành và phát triển nhân cách.
Triết học Mác - Lênin xem nhân cách như là một chỉnh thể cá nhân, có tính lịch sử - cụ thể. Nó tham gia vào hoạt động thực tiễn, đóng vai trồ chủ thể của nhận thức và của sự phát triển xã hội (Chủ nghĩa xã hội và nhân cách, 1993). Nói đến nhân cách, trước hết là nói tới nhân cách của con người, gắn liền với bản chất xã hội của nó, là sản phẩm của những hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể. Nó là kết quả của hoạt động người trong quá trình họ tiếp nhận sự giáo dục của xã hội và quá trình tự giáo dục của bản thân.
Quá trình này không chỉ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự phát triển nhân cách mà còn là phương diện chủ yếu để tạo ra diện mạo nhân cách đạo đức con người. Ở đây, 6 các nhân tố sinh vật, di truyền, tâm sinh lý và xã hội xoắn xuýt với nhau. Đối với sự phát triển nhân cách, cải tạo sinh vật di truyền và tâm sinh lý là cơ sở sinh vật, là những điều kiện tự nhiên, mà trên cơ sở đó hình thành nên những đặc điểm lịch sử - xã hội của con người. Mặt khác, nhân cách là nhân cách của từng cá nhân riêng biệt, cụ thể có mối quan hệ mật thiết với điều kiện tự nhiên, xã hội xung quanh.
Bất kì ai trong chúng ta mang nhân cách này vừa có khả năng tự đánh giá những hành vi của bản thân mình, vừa có khả năng đánh giá hành vi của cá nhân mang nhân cách khác. Quá trình tự đánh giá và được đánh giá đó là quá trình cá nhân thực hiện những hành vi cho mình và cho người khác theo yêu cầu chung của nhân cách xã hội. Có thể nói, nhân cách là những phẩm chất bên trong của mỗi cá nhân trước những đòi hỏi của xã hội và của bản thân cá nhân để cá nhân đó tồn tại và làm tròn trách nhiệm của mình với bản thân, với xã hội. Do đó, nhân cách cá nhân bị chi phối bởi nhân cách xã hội, phản ánh nhân cách xã hội, đồng thời nhân cách xã hội tìm thấy mình qua những hình ảnh, diện mạo riêng rất đa dạng của mỗi nhân cách cá nhân.2 Nhân cách đạo đức Nhân cách đạo đức: Là tổng thể những phẩm chất đạo đức của nhân cách (nhu cầu, tình cảm, niềm tin, tri thức, lý tưởng, năng lực đạo đức.) được hình thành một cách lịch sử - cụ thể, được thể hiện, thực hiện trong toàn bộ hoạt động sống của con người trong xã hội.
Nếu nhân cách là một chỉnh thể thống nhất giữa đức và tài, của những thuộc tính, phẩm chất, xu hướng.bên trong, riêng biệt của mỗi cá nhân, dùng để phân biệt cá nhân này và cá nhân khác thì nhân cách đạo đức lại thể hiện năng lực đạo đức cá nhân, là ý thức, tình cảm, lý tưởng đạo đức cá nhân. Nhân cách là một khái niệm rộng bao hàm trong nó phương diện đạo đức, phương diện thẩm mỹ, phương diện nhận thức. hoặc nói cách khác nhân cách bao gồm những phẩm chất đạo đức, phẩm chất thẩm mỹ, phẩm chất nhận thức. tức là những phẩm chất xã hội của con người.
Những phẩm chất xã hội ấy được hình thành trong quá trình hoạt động thực tiễn, hoạt động xã hội của con người chứ không phải do thiên phú hay là những phẩm chất bẩm sinh. Vì vậy, tất yếu trong cấu trúc của nhân cách phải bao gồm phẩm chất thẩm mỹ, phẩm chất nhận thức và phẩm chất đạo đức của cá nhân (Trần Thị Tuyết Sương, 1998). Tuy nhiên, sự tham gia của nhân cách đạo đức trong cấu trúc của nhân cách không chỉ được hiểu đơn giản chỉ là yếu tố cấu thành lên nhân cách, dù là yếu tố nền tảng. Sự tham gia đó biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa nhân cách và nhân cách đạo đức, nhân cách đạo đức phát triển sẽ là “chất men” kích thích sự phát triển của trí tuệ, của tư duy sáng tạo và năng lực thực tiễn của nhân cách.
Nói đến nhân cách đạo đức là có ý thức nhấn mạnh phẩm chất đạo đức là 7 phẩm chất tiêu biểu nhất, là “cái gốc” làm nên nhân cách con người (Trần Thị Tuyết Sương, 1998). Nhân cách đạo đức có sự tương đồng và khác biệt so với đạo đức. Đạo đức là một phạm trù quen thuộc, là một hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người rất gần gũi đối với mỗi chúng ta, gắn liền với đời sống xã hội và mỗi con người, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội. Theo từ điển triết học: Đạo đức là quy tắc chung trong xã hội và hành vi con người, qui định những nghĩa vụ của người này đối với người khác và đối với xã hội.
(Từ điển triết học,Nxb.