phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết. Luan van 13 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN TẠI CÁC XỨ ĐẠO 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Đạo đức và giáo dục đạo đức Đạo đức Trong cuộc sống, con người phải hoạt động và tham gia các quan hệ xã hội, nếu con người có cách giao tiếp, ứng xử phù hợp với lợi ích, chuẩn mực chung của xã hội, của tổ chức mà họ tham gia thì được đánh giá là có đạo đức.
Ngược lại, cá nhân nào có thái độ, hành vi không đứng đắn làm tổn hại tới lợi ích của người khác, của cộng đồng và bị xã hội lên án, chê trách thì bị coi là người thiếu đạo đức. Vậy đạo đức là gì? Theo Từ điển tiếng Việt thì: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội. Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp nhất định” [47,tr.211] Theo học thuyết Mác – Lênin: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội.
Vì vậy tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội (đạo đức) cũng thay đổi theo. Và như vậy đạo đức xã hội luôn mang theo tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc. Theo giáo trình Đạo đức học: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [15,tr. Luan van 14 Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “ Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định và chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người.
Nhưng trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống” [17, tr. Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ vói phạm trù chính trị, pháp luật đời sống; nó là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá. Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn. Theo tác giả Trần Hậu Kiểm: “Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc chuẩn mực xã hội nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội” [23,tr.
Theo Phạm Khắc Chương: “Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc chuản mực xã hội nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội” [5,tr. Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức; tuy nhiên theo chúng tôi, có thể tiếp cận khái niệm này dưới hai góc độ: Về góc độ xã hội: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu chuẩn mực điều chỉnh hoặc chi phối hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với xã hội và với chính bản thân mình. Về góc độ cá nhân: Đạo đức chính là những phẩm chất, nhân cách của con người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng Luan van 15 xử của họ trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ với người khác và với chính bản thân mình. Đạo đức biến đổi và phát triển cùng với sự biến đổi, phát triển của các điều kiện kinh tế xã hội; và cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm đạo đức ngày càng được hoàn thiện đầy đủ hơn.
Giáo dục Giáo dục là một hình thái ý thức xã hội, nó tồn tại, vận động, phát triển cùng với sự vận động, phát triển của xã hội. Là một hiện tượng xã hội, giáo dục sự chi phối và quy định bởi nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Mặt khác, sự phát triển của giáo dục và sự hoàn thiện chất lượng giáo dục là yếu tố then chốt tạo ra sự phát triển của xã hội, của nền văn minh nhân loại. Giáo dục được hiểu theo nhiều cách tiếp cận và cấp độ khác nhau: Về bản chất nó được hiểu là quá trình truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội giữa các thế hệ.
Về hoạt động: Giáo dục được hiểu là quá trình tác động của xã hội và của nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách theo yêu cầu của xã hội. Về mặt phạm vi, giáo dục được hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau: cấp độ rộng nhất: Giáo dục là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các tác động xã hội; đây cũng chính là quá trình xã hội hoá con người. Cấp độ thứ 2; Giáo dục là hoạt động có mục đích của các lực lượng giáo dục xã hội nhằm hình thành các phẩm chất nhân cách. Cấp độ thứ 3: Giáo dục là hoạt động có kế hoạch, có nội dung xác định và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong các tổ chức giáo dục, nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện.
Cấp độ hẹp nhất: Giáo dục là quá trình hình thành ở đối tượng giáo dục những phẩm chất đạo đức, những thói quen hành vi. Ở đây, giáo dục được hiểu như là một quá trình sư phạm tổng thể: là hoạt động có kế hoạch, có nội dung, bằng các phương pháp khoa học trong các cơ sở giáo dục nhằm phát triển đức, trí, thể, mỹ cho đối tượng giáo dục. Luan van 16 Giáo dục đạo đức cho trẻ vị thành niên ở các xứ đạo Bản chất của giáo dục đạo đức, là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể giáo dục và yếu tố tự giáo dục của đối tượng giáo dục, giúp họ chuyển hoá những chuẩn mực, quy tắc đạo đức từ bên ngoài xã hội vào bên trong thành cái riêng của mình, thành hành vi đạo đức phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực xã hội; kết quả giáo dục phải được thể hiện qua tình cảm, niềm tin, ành động thực tế của đối tượng giáo dục. Theo tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO), độ tuổi vị thành niên là từ 10 đến 19 tuổi.
Ở Việt Nam chúng ta, độ tuổi vị thành niên là từ 10 đến 18 tuổi; đây là lứa tuổi có nhiều biến động mạnh mẽ về tâm sinh lý, do vậy người làm công tác giáo dục cần hiều biết sâu sắc đặc điểm đó mới có thể đạt kết quả mong muốn. Giáo dục đạo đức cho trẻ vị thành niên ở các xứ đạo, là quá trình lâu dài, liên tục về thời gian, rộng khắp về không gian, từ mọi lực lượng xã hội, trong đó nhà trường, nhà thờ giữ vai trò rất quan trọng. Nó là quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức cho họ dưới những tác động và ảnh hưởng có mục đích được tổ chức có kế hoạch, có sự lựa chọn về nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục phù hợp với lứa tuổi. Từ đó, giúp trẻ vị thành niên có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, với cộng đồng xã hội, với lao động, với tự nhiên.
Như vậy, Giáo dục đạo đức cho trẻ vị thành niên ở các xứ đạo, là hoạt động có mục đích, có tổ chức và có kế hoạch của các chủ thể giáo dục của xứ đạo đối với đối tượng này, nhằm hình thành ý thức đạo đức, tình cảm, niềm tin đạo đức và thói quen hành vi, đạo đức phù hợp với mục tiêu các chuẩn mực xã hội và giáo hội. Mục tiêu giáo dục đạo đức cho trẻ vị thành niên: Giúp trẻ vị thành niên chuyển hóa nhận thức về các chuẩn mực đạo đức của xã hội thành những Luan van 17 phẩm chất đạo đức, rèn luyện kỹ năng, hành vi đạo đức theo các chuẩn mực đó. Cụ thể như: Về kiến thức: Biết được biểu hiện và ý nghĩa của một số giá trị đạo đức cơ bản, phù hợp với lứa tuổi; biết được nội dung cơ bản của một số quyền và nghĩa vụ công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hiểu những yêu cầu về đạo đức và ý thức tuân thủ pháp luật trong đời sống hằng ngày.
Về lỹ năng: Biết sống và ứng xử theo các giá trị đạo đức đã học. Biết ứng xử giao tiếp một cách có văn hoá ; thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân phù hợp với lứa tuổi. Về thái độ: Yêu quê hương đất nước Việt Nam; tự hào có ý thức giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc; tôn trọng đất nước con người và các nền văn hoá khác; yêu thương, tôn trọng mọi người xung quanh. Bước đầu hình thành một số phẩm chất cần thiết của người lao động như cần cù, sáng tạo, trung thực, có trách nhiệm, có ý thức kỷ luật.
Tích cực tham gia hoạt động tập thể, hoạt động xã hội phù hợp với khả năng. Có ý thức rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường; có ý thức thẩm mỹ, yêu và trân trọng cái đẹp; yêu hoà bình, yêu sự thật, yêu chân lý, có lương tâm ngay chính, có tinh thần với cộng đồng, có lòng bác ái… Muốn đạt tới các mục tiêu đó, vai trò của công tác quản lý giáo dục đạo đức cho trẻ vị thành niên tại các xứ đạo là rất lớn. Nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ vị thành niên gồm: Nhóm chuẩn mực đạo đức, thể hiện nhận thức chính trị, tư tưởng, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, yêu quê hương, đất nước, tự cường, tự hào dân tộc, tin tưởng vào Đảng và Nhà nước.