Chương 1: Những vấn đề lý luận về thể chế giảng viên thỉnh giảng trong trường đại học. - Chương 2: Thực trạng thể chế quản lý giảng viên thỉnh giảng ở Đại Học Y Hà Nội. - Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện thể chế giảng viên thỉnh giảng ở Đại học Y Hà Nội. 12 Luan van Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ QUẢN LÝ GIẢNG VIÊN THỈNH GIẢNG TRONG TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.
Thể chế quản lý và thể chế quản lý giảng viên thỉnh giảng trong trƣờng đại học 1. Khái niệm thể chế quản lý Trên thế giới, khái niệm về thể chế đã được những nhà kinh tế học định nghĩa từ lâu. Chẳng hạn, khái niệm về thể chế được Douglass North đưa ra đầu tiên trong cuốn “Thể chế, sự thay đổi thể chế và vận hành kinh tế” (1990). Theo Douglass North, thể chế là những quy tắc của “trò chơi” trong xã hội, tức những quy tắc mang tính minh bạch và nhân văn để điều chỉnh những hành vi giao dịch giữa con người với nhau.
Lý thuyết về thể chế được xây dựng dựa trên các hành vi ứng xử giữa con người với nhau, phù hợp với lý thuyết của chi phí giao dịch mà theo Douglas North, thể chế là những luật lệ của cuộc chơi trong xã hội (rules of the game). Chính xác hơn thì Douglas North quan niệm, thể chế là những ràng buộc do con người tạo ra để điều chỉnh và định hình các hoạt động tương tác của mình. Theo North, vai trò chính của thể chế trong một xã hội là làm giảm tính bất trắc bằng cách cung cấp một cấu trúc cho hoạt động trong đời sống hàng ngày. Thể chế còn có tác dụng hướng dẫn sự tương tác giữa con người với con người, dù là những hoạt động xã hội đơn giản, như khi chúng ta muốn chào bạn bè trên đường phố hay hoạt động phức tạp hơn như thành lập doanh nghiệp.
Trong thực tế, cùng một hoạt động hay giao dịch nhưng được thực hiện ở các nơi khác nhau sẽ phải theo những luật lệ khác nhau. Ba cấu thành quan trọng của hệ thống thể chế là thể chế chính thức (thành văn, luật lệ), thể chế phi chính thức (bất thành văn, như tục lệ và các quy tắc xử sự), và các cơ chế 13 Luan van và biện pháp chế tài. Thể chế có thể do con người sáng tạo, nhưng cũng có thể chỉ được tiến hóa theo thời gian, như tập tục về văn hóa. Các ràng buộc thể chế khá đa dạng, như những điều cấm kỵ con người làm, những điều con người có thể làm, những điều con người nên hay không nên làm.
Theo North, nếu bằng cách tiếp cận vi mô thì sự thay đổi thể chế dần dần là do các tổ chức chính trị và kinh tế nhận thức rằng họ có thể làm tốt hơn bằng cách thay đổi Khung thể chế hiện tại bằng khung mới theo cách nào đó. Để nhấn mạnh mối quan hệ giữa thể chế và tổ chức, Douglass North cũng chỉ rõ, nếu thể chế là quy tắc của trò chơi thì tổ chức hướng đến những người chơi có liên quan. Tổ chức sẽ cung cấp một cấu trúc, mô hình cơ bản cho các giao dịch giữa con người với nhau. Tổ chức bao gồm tổ hợp của kỹ năng, chiến lược và sự liên kết giữa “người chơi”, các nhóm cá nhân với cùng mục đích, mục tiêu và việc sử dụng các quy tắc, luật lệ giống nhau.
Đây là cách diễn đạt mang tính chất giản lược về thể chế qua lăng kính của một nhà Kinh tế học. Qua khái niệm thể chế từ lăng kính của nhà Kinh tế học, có thể hình dung vai trò hàng đầu của thể chế là định hướng, hướng dẫn hành vi và tạo khung khổ pháp lý cho việc tổ chức hoạt động của con người, tác động lớn đến sự lựa chọn và việc quyết định hành động của các chủ thể tham gia. Ngoài ra, thể chế có tác dụng hướng dẫn trong mối quan hệ qua lại của con người để khi làm bất cứ việc gì, mỗi cá nhân biết được cách thức thực hiện những việc đó như thế nào. Tương tự cách tiếp cận của kinh tế học, theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng (1996) thì thể chế là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người phải tuân theo.
Cách định nghĩa này có thể được hiểu theo hai hướng: Một là, thể chế được coi như “luật chơi”, có giá trị bắt buộc mọi người phải tuân thủ. Ở cách hiểu này thì thể chế bao gồm quy định luật lệ, quy tắc, không bao gồm tổ chức và thiết chế xã hội được thiết lập để giám sát sự tuân 14 Luan van thủ luật chơi của chủ thể quan hệ. Thể chế hiện diện ở hai dạng, chính thức (Hiến pháp, Luật, Nghị định, Thông tư…) và phi chính thức (Giá trị văn hóa, Quy tắc đạo đức, Ứng xử nghề nghiệp…). Tuy nhiên, theo quan điểm khoa học cá nhân của tác giả luận văn thì việc phân chia này không có tính tuyệt đối trong mọi bối cảnh, bởi có không ít những lĩnh vực, quy tắc đạo đức nghề nghiệp vẫn là một bộ phận có giá trị bắt buộc để xác định quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm phải thực hiện trên cơ sở tuân thủ quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp, đồng thời phục vụ cho việc xử lý trách nhiệm của chủ thể khi vi phạm.
Hai là, thể chế được đề cập là tập hợp của hai thành tố là cấu trúc và cơ chế, tức bao gồm trong nội hàm thể chế “người chơi” và “luật chơi”. Cách hiểu này cũng là quan điểm mà Ngân hàng Thế giới đã từng nêu lên khi đề cập về thể chế. Cụ thể, theo Ngân hàng Thế giới (2002) thì thể chế là những quy định và tổ chức, bao gồm chính thức và không chính thức, điều phối hoạt động của con người, nó bao gồm “tài sản xã hội” (niềm tin, giá trị được thừa nhận, tôn giáo, mạng lưới các quan hệ, quy chuẩn, luật lệ), các quy định, truyền thống, nguyên tắc, pháp luật, và các tổ chức (cơ quan chính phủ, công ty, pháp nhân, tổ chức xã hội dân sự, cảnh sát, tòa án…). Khi viện dẫn ra những khái niệm về thể chế như trên, luận văn tiếp cận thể chế theo cách hiểu là những vẫn đề cơ bản nhất của luật chơi, tác động tích cực tới người chơi khi giải quyết vấn đề xây dựng thể chế quản lý giảng viên thỉnh giảng tại trường đại học nói chung và Đại học Y Hà Nội nói riêng.
Trong khoa học quản lý công cũng như nhiều môn khoa học xã hội khác, thể chế có thể tồn tại độc lập và cũng có thể gắn liền với những khái niệm khác để làm nên phạm trù khái niệm khoa học có nội hàm khác nhau. Một trong số đó là khái niệm “Thể chế quản lý”. Khái niệm quản lý vốn có rất nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau, chẳng hạn, theo Harolk Kootz & Cyryl O'Donell thì quản lý là việc thiết 15 Luan van lập và duy trì môi trường nơi mà cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết quả, nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm. Hay Robert Kreitner quan niệm rằng, quản lý là tiến trình làm việc với và thông qua người khác để đạt các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường thay đổi.
Trọng tâm của tiến trình này là kết quả và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực giới hạn. Quản lý là một trong những hoạt động vừa khó khăn, phức tạp, vừa là một nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của một tổ chức, đơn vị, pháp nhân cụ thể. Những quan niệm về quản lý cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức. Đó là quá trình tạo nên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung.
Về phương diện khoa học thì quản lý bao gồm các thành tố như chủ thể, đối tượng, khách thể và mục tiêu quản lý. Không gian bao trùm và kết nối các thành tố này để tạo thành tổng thể quản lý hoàn chỉnh chính là môi trường quản lý (bao gồm môi trường vĩ mô và môi trường vi mô). Trong môi trường quản lý, môi trường thể chế (tức môi trường chính trị, pháp luật) đóng vai trò quan trọng. Môi trường chính trị và pháp luật bao gồm các luật lệ, các quy tắc và những hoạt động của cơ quan nhà nước có ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức.
Thể chế chính trị giữ vai trò định hướng, chi phối các hoạt động trong xã hội. Môi trường chính trị, pháp luật thuộc nhóm các yếu tố vĩ mô, mặc dù nó ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động của tổ chức. Những yếu tố này giữ vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của tổ chức. Khi đặt trong cấu trúc cụ thể của tổ chức, môi trường thể chế chính là nền tảng chính trị, pháp lý cho sự phát triển của tổ chức, dù đó là doanh nghiệp, cơ quan nhà nước hay tổ chức giáo dục đào tạo.
Khái niệm, phân loại thể chế quản lý giảng viên thỉnh giảng trong trường đại học 1. Khái niệm thể chế quản lý giảng viên thỉnh giảng trong trường đại học Đề cập khái niệm thể chế quản lý giảng viên thỉnh giảng trong trường đại học trước hết phải xuất phát từ khái niệm thể chế quản lý. Khái niệm này có thể hiểu là sự kết hợp của khái niệm Quản lý (là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra) và khái niệm Thể chế. Theo nghĩa chung nhất, Thể chế quản lý được hiểu là hệ thống các quy phạm, chuẩn mực được ban hành dưới hình thức văn bản pháp luật nhà nước hoặc văn bản nội bộ của tổ chức để quy định, hướng dẫn và yêu cầu thực thi các nội dung quản lý theo một cách thức xác định.
Định nghĩa này là cơ sở để nghiên cứu về thể chế quản lý giảng viên thỉnh giảng, Về phương diện khoa học quản lý công, “Thể chế quản lý giảng viên thỉnh giảng trong trường đại học là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành về đào tạo đại học và tổng hợp các quy định, nguyên tắc, quy tắc do trường đại học ban hành nhằm đảm bảo chất lượng, nội dung hoạt động thỉnh giảng diễn ra theo đúng kế hoạch, chương trình đào tạo, sứ mệnh, tầm nhìn của một nhà trường”.