mở đầu cho hai thập kỷ bùng phát các nghiên cứu định hình lối đi nào cho giáo dục Việt Nam, cho dạy học ở bậc THPT thực thi được công cuộc đổi mới toàn diện. Đại diện cho những nghiên cứu đổi mới là Phan Văn Kha và Nguyễn Lộc với “Khoa học giáo dục Việt Nam từ đổi mới đến nay”, Bùi Ngọc Hiền (2012) với “Thực hiện quan điểm đổi mới của Đảng về đổi mới giáo dục”, Đặng Huỳnh Mai (2017) với “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam với nhiệm vụ đào tạo bồi dưỡng CBQL”, Ngô Minh Oanh với “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở trường phổ thông theo tinh thần đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục của nghị quyết số 29-NQ/TW”. Bên cạnh những nghiên cứu mang tính định hướng chung trên, còn rất nhiều nghiên cứu khác bàn về những khía cạnh chi tiết của vấn đề dạy học theo hướng tiếp cận NL. Chiếm phần lớn các sách, bài báo khoa học, luận văn, luận án nghiên cứu đổi mới một thành tố quan trọng nhất trong giáo dục nói chung và dạy học nói riêng là đổi mới PPDH.
Đặng Thành Hưng (2002) với “Dạy học hiện đại – lý luận, biện pháp, kỹ thuật” tổng kết các nghiên cứu ngoài nước để hình thành kỹ thuật nhóm hợp tác và các yêu cầu cần thiết hướng đến thực hiện kỹ thuật này thành công trong việc dạy học trên thực tế. Thái Duy Tuyên (2008) với “PPDH truyền thống và đổi mới” đi sâu vào phân tích từng nhóm PPDH với sự so sánh, gợi mở rất chi tiết làm nổi bật tầm quan trọng của các phương pháp tích cực đặc biệt là phương pháp học tập hợp tác với sự phát huy kỹ năng con người trong học tập và sinh hoạt. Bên cạnh đó, cũng có nhiều tác giả nghiên cứu sâu về ứng dụng phương pháp tích hợp – phân hóa như Nguyễn Văn Tuấn (2010), Nguyễn Thị Kim Dung (2013), Ngô Minh Oanh (2015), Tưởng Duy Hải (2016), Nguyễn Thị Phú 22 (2019) và một số khác thì nghiên cứu sử dụng các phương pháp và kỹ thuật tích cực khác như dự án, trường hợp điển hình, giải quyết tình huống, sử dụng bản đồ. như Nguyễn Văn Cường (2010), Đặng Quốc Bảo (2016), Nguyễn Thị Thủy (2017).
Các nghiên cứu khác cũng đóng góp không nhỏ vào đổi mới các HĐDH trong nhà trường phổ thông như ứng dụng CNTT trong giảng dạy của Nguyễn Thị Yến (2016); kiểm tra, đánh giá và quản lý của Nguyễn Tuấn Anh (2015); tổ chức các HĐGD như trải nghiệm của Huỳnh Thị Hải (2017), Huỳnh Phước Hải (2020), Lê Thị Kim Anh (2020), xây dựng thang đo để thực nghiệm xác định mức độ kiểm tra đánh giá theo hướng tiếp cận tiếp cận NL của tác giả Nhữ Thị Phương Lan (2019), Lê Thị Thu Hà và Đoàn Anh Chung (2018), Phan Đồng Châu Thủy và Nguyễn Thị Ngân (2017). Trong bối cảnh nước ta hiện nay, vừa thử nghiệm, vừa thay đổi, vừa chỉnh sửa hoàn thiện từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, từ lớn đến nhỏ thì càng có nhiều nghiên cứu để định hình, để góp ý, để tổng hợp, để thống kê và để bàn xem đã đạt và chưa đạt điều gì. Những nghiên cứu về quản lý trong giáo dục gần đây hầu như phủ khắp các chức năng của quản lý nói chung. Không khó để nhận ra Đặng Huỳnh Mai (2008), một nhà giáo, nhà QLGD với kinh nghiệm của mình đã truyền tải những thông điệp hữu ích cho công tác QLGD bằng những mẫu chuyện quản lý ngắn , có thực trong tác phẩm “Những tình huống trong thực tiễn QLGD”.
Trong đó nhấn mạnh quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật bởi tính đặc trưng trong các mối quan hệ của QLGD là con người với những tam quan không giống nhau, hoàn cảnh khác nhau, trình độ không đều nhau. Ở góc độ khác về vấn đề QLGD và quản lý dạy học, có thể nói chất lượng giáo dục và làm như thế nào, với phương cách gì để đảm bảo chất lượng giáo dục là trăn trở lớn của nhiều nhà nghiên cứu như Nguyễn Tiến Hùng (2014), Huỳnh Văn Sơn (2017), Trần Kiểm (2017), Trần Khánh Đức (2013), Nguyễn Huy Vị (2018). Bởi vì chất lượng giáo dục không tự sinh ra và cũng không phải là một kết quả ngẫu nhiên. Đó là kết quả tác động của nhiều yếu tố có liên quan chặt chẽ trong cấu trúc giáo dục tác động lên một con người cụ thể – sản phẩm của giáo dục.
Các nghiên cứu còn đề cập khá nhiều đến vấn đề quản lý bồi dưỡng GV – một thành tố có tính quyết định nhất đến kết quả trong bất kỳ mô hình hay CTGD nào. Vũ Thị Thu Huyền (2015) đề cập đến quản lý bồi dưỡng 23 GV dựa trên các quy định về chuẩn GV. Trần Thị Hải Yến (2015) thì xem xét quản lý bồi dưỡng NL dạy học cho GV theo chuẩn nghề nghiệp. Vi Tiến Cường (2019) lại xem xét bồi dưỡng dựa trên khung NL.
Nguyễn Thị Thu Thủy đề cập quản lý bồi dưỡng GV thông qua chương trình bồi dưỡng thường xuyên. Không khó nhìn ra khi có rất nhiều nghiên cứu định hướng quản lý bồi dưỡng GV theo các quy định chung của Nhà nước và cũng có nhiều nghiên cứu cùng chung nhận định rằng quản lý bồi dưỡng GV còn phải dựa trên cơ sở phát triển các NL để đáp ứng việc dạy học theo định hướng tiếp cận NL của Trần Đức Khởi (2019), Nguyễn Thị Tuyết, Cao Thị Thanh Xuân (2017). Như vậy trong các nghiên cứu này nhận định thành tố quan trọng cần tác động đầu tiên để HĐDH tiếp cận NL có hiệu quả là tác động trực tiếp lên GV bằng nhiều phương pháp quản lý. Các hướng nghiên cứu còn lại là về quản lý những mặt cụ thể của giáo dục tiếp cận NL như: quản lý xây dựng và phát triển chương trình dạy học định hướng tiếp cận NL của Nguyễn Thị Kim Chi (2017), Trần Thanh Bình (2014), quản lý HĐDH đáp ứng yêu cầu đổi mới của Võ Hải Dương (2016), Lê Thị Thu Hằng (2018), quản lý tìm kiếm mô hình đánh giá HS của Bộ giáo dục và đào tạo (2014), quản lý kiểm tra đánh giá của Nguyễn Công Khanh (2014), Bộ giáo dục và đào tạo (2014).
Chương trình GDPT thông tổng thể 2018 lại đề cập đến NL của người công dân mới – công dân toàn cầu và xác định hệ thống NL cốt lõi mà một nhà trường cần phải thực hiện khi dạy học theo định hướng tiếp cận tiếp cận NL HS. Bộ GD & ĐT đưa ra nhóm 8 NL phải đạt được thông qua CTGD mới là NL tự học, NL tự giải quyết vấn đề sáng tạo, NL thẩm mỹ, NL thể chất, NL giao tiếp và hợp tác, NL tính toán, NL CNTT và truyền thông (Nguyễn Huy Vị, 2018). Để có thể hình thành 8 NL trên cơ sở nghiên cứu, ứng dụng các kinh nghiệm được chia sẻ của rất nhiều tác giả tâm huyết về HĐDH và quản lý HĐDH, các cơ sở giáo dục hiện nay đang từng bước tổ chức hoạt động dạy và học tiến dần đến việc định hướng phát triển từng NL ở những bộ môn cụ thể, cá thể hóa việc học, đánh giá NL từng môn học và tiến đến hoàn thành việc hình thành các NL nêu trên ở tất cả các môn học trong đó có nhóm môn KHXH. Tuy nhiên những nghiên cứu trong nước có tính hệ thống về dạy học và quản lý dạy học tiếp cận NL cho riêng cả nhóm môn KHXH còn rất ít.
Quan trọng nhất về quản lý chung trong định hướng tiếp cận NL, tác giả Ngô Minh Oanh (2015), Nguyễn Long 24 Giao (2018) đề ra các biện pháp để nâng cao chất lượng GV nhóm môn KHXH. Về lý luận, có nghiên cứu về dạy học tích hợp các môn xã hội của Nguyễn Thị Kim Dung (2013), về PPDH có nghiên cứu của Nguyễn Văn Ninh (2014) và Phan Anh Khánh (2014), về chức năng bộ môn có nghiên cứu của Ngô Minh Oanh (2016), về dạy học dựa trên CNTT cho nhóm môn KHXH có Phạm Văn Danh và Hồ Sỹ Anh (2013). Như vậy với rất nhiều nghiên cứu trong hầu hết các khía cạnh của lý luận về quản lý cũng như dạy học theo hướng tiếp cận NL HS, đặc biệt sự nghiên cứu sâu trong đổi mới PPDH với việc mô phỏng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực đã khẳng định rằng các nghiên cứu tại Việt Nam cũng không rời đi xu hướng nghiên cứu chung của các nghiên cứu ngoài nước. Đều phải bắt đầu với sự khẳng định tất yếu phải thay đổi quan điểm trong quản lý và xây dựng chương trình học nếu muốn phát huy NL người học làm cho họ có tính cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế, HĐDH phải hướng đến người học là trung tâm, dạy học phải theo các tiêu chuẩn phẩm chất và NL để HS có thể phát huy tính độc lập, sáng tạo, tự chủ và có khả năng giải quyết vấn đề phát sinh trong học tập và cuộc sống.
Nhiều nguồn nghiên cứu trong ngoài nước như thế góp phần hình thành cơ sở tham khảo và triển khai áp dụng trong thực tế quản lý và dạy học cho CBQL và GV. Tuy nhiên, những kết quả tại các nước không thể áp dụng hoàn toàn một cách máy móc ở Việt Nam bởi đa phần do khác biệt về văn hóa, mục tiêu, cách nhìn nhận làm hệ thống lý luận chỉ mang tính tham khảo, học hỏi. Trong luận văn này, tác giả bổ sung vào một phần lý luận cho việc quản lý nhóm môn KHXH và những thuận lợi, khó khăn khi triển khai áp dụng những lý luận quản lý đó trên thực tế quản lý đổi mới dạy học nhóm môn KHXH tại các trường ở Quận 9, Tp. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.
Hoạt động dạy học tiếp cận năng lực 1. Năng lực Sự quan tâm đến NL và dạy học dựa trên NL càng ngày càng trở nên phổ biến từ khi các học thuyết giáo dục mới lên ngôi trong thế giới đa chiều. NL được định nghĩa “là khả năng, là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” (Từ điển Tiếng Việt, 2001, trang 660-661). 25 Bên cạnh đó NL còn được xem “là đặc điểm của cá nhân, thể hiện mức độ thông thạo một hay một số dạng hoạt động nào đó” (Từ điển bách khoa Việt Nam, 2005, trang 42).
Các nhà tâm lý học Việt Nam cho rằng: “NL là sự tổ hợp những thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân nhằm đáp ứng những yêu cầu của một hoạt động nhất định và đảm bảo cho hoạt động đó đạt được kết quả cao” (Huỳnh Văn Sơn, Nguyễn Kim Hồng, và Nguyễn Thị Diễm My, 2017, trang 17).