Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống di sản văn hóa Việt Nam là tài sản vô giá kết tinh từ hàng ngàn năm lịch sử, trong đó tỉnh Phú Thọ tự hào là vùng đất phát tích cội nguồn dân tộc với 1 di tích quốc gia đặc biệt và 73 di tích cấp quốc gia. Nổi bật tại xã An Đạo, huyện Phù Ninh, chùa Hoàng Long là ngôi chùa cổ có niên đại hơn 300 năm, được khởi dựng vào tháng 2 năm Kỷ Sửu (1709) dưới triều vua Lê Dụ Tông và được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 04/2001/QĐ-BVHTT ngày 19/01/2001. Xã An Đạo có tổng diện tích tự nhiên 669,67 ha cùng dân số 6.780 nhân khẩu thuộc 1.750 hộ gia đình, sở hữu vị trí địa lý đắc địa chỉ cách Khu di tích lịch sử Đền Hùng khoảng 5 đến 6 km.

Tuy nhiên, dưới tác động của thời gian, khí hậu khắc nghiệt và quá trình hiện đại hóa, chùa Hoàng Long đang đối mặt với nguy cơ xuống cấp, biến dạng kiến trúc qua các lần trùng tu chưa chuẩn mực và thất thoát cổ vật. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý di tích từ năm 2001 đến năm 2018, chỉ rõ những mặt tích cực và hạn chế, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và phát huy giá trị di sản. Công trình có ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp giải pháp bảo vệ nguyên vẹn 27 pho tượng cổ, chuẩn hóa 100% hồ sơ kiểm kê di vật và thiết lập cơ chế liên kết phát triển du lịch bền vững tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý học hiện đại kết hợp với quản trị công văn hóa. Trọng tâm lý luận dựa trên quan điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về chức năng quản lý xã hội, kết hợp khung lý thuyết quản lý di sản dựa vào cộng đồng và mô hình 8 nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa được quy định trong Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Các khái niệm cốt lõi được định lượng và làm rõ bao gồm: Quản lý văn hóa, Di tích lịch sử - văn hóa, Quản lý Nhà nước về di tích và Chủ thể cộng đồng di sản.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang lý luận vững chắc cho đề tài gồm: Sắc lệnh số 65/SL năm 1945, Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN năm 1984, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP, Nghị định số 70/2012/NĐ-CP về thẩm quyền lập và phê duyệt quy hoạch tu bổ di tích, cùng Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL. Hệ thống lý luận này giúp định hình ma trận phân tích 3 cấp quản lý hành chính từ tỉnh, huyện đến xã trong mối tương quan với chủ thể tôn giáo sở tại.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa học, sử học và luật học, kết hợp đồng bộ các kỹ thuật thu thập dữ liệu:

  • Phương pháp điền dã và khảo sát thực địa: Khảo sát toàn diện 100% diện tích khuôn viên chùa, đo đạc kích thước từng đơn nguyên kiến trúc và giám định hiện trạng 27 pho tượng cổ cùng cây hương đá năm 1709 cao 1m40.
  • Phương pháp điều tra xã hội học và chọn mẫu: Cỡ mẫu khảo sát gồm 12 cán bộ chuyên trách văn hóa cấp tỉnh, huyện, xã và 950 hội viên thuộc Hội Phật giáo xã An Đạo đại diện cho 11 khu dân cư. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng nhằm thu thập dữ liệu sâu sắc từ các chủ thể trực tiếp quản lý và thực hành tín ngưỡng.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Khai thác hồ sơ xếp hạng di tích năm 2001 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Thọ, văn bia chữ Hán, văn khắc chuông đồng năm 1745 và các văn bản hành chính như Công văn số 326/UBND-VH&TT năm 2016.
  • Lý do lựa chọn phương pháp: Sự kết hợp giữa dữ liệu văn bản pháp lý và khảo sát thực địa là cách tiếp cận tối ưu để đánh giá chính xác khoảng cách giữa chính sách quản lý trên giấy tờ và thực tiễn vận hành tại cơ sở.
  • Khung thời gian nghiên cứu: Dữ liệu được thu thập tập trung trong giai đoạn 2015 - 2017, bổ sung cập nhật số liệu đến tháng 5 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Bảo tồn nguyên vẹn hệ thống cổ vật độc bản nhưng đối mặt nguy cơ xuống cấp kiến trúc: Chùa Hoàng Long bảo lưu 27 pho tượng Phật và Thần (gồm 6 pho tượng gỗ và 21 pho tượng thổ thế kỷ 18) cùng cây hương đá tạo tác năm 1709 và chuông đồng "Hoàng Long tự chung" đúc năm 1745. Dù trải qua 7 lần tu sửa (các năm 1775, 1894, 1905, 1931, 1936, 1994, 1997), tòa Bái Đường dài 12m40, rộng 9m với 8 cột cái gỗ và tòa Chính Điện dài 3m90, rộng 8m30 đang xuất hiện tình trạng mối mọt, ngói xô lệch và ẩm mục cục bộ.
  2. Sự chồng chéo giữa hai chủ thể quản lý: Mô hình quản lý tồn tại sự phân tách giữa quyền hạn pháp lý của Ủy ban nhân dân xã An Đạo và quyền điều hành thực tế của nhà sư trụ trì cùng Ban Phật giáo 950 hội viên. Khoảng 70% các quyết định sửa chữa nhỏ, bài trí nội thất do nhà chùa tự thực hiện mà chưa thông qua cơ quan quản lý chuyên môn cấp huyện.
  3. Nguồn lực xã hội hóa chiếm tỷ trọng áp đảo nhưng thiếu định hướng chuyên môn: Hơn 80% tổng kinh phí đầu tư, chỉnh trang các hạng mục phụ trợ xuất phát từ nguồn công đức của nhân dân và khách thập phương. Tuy nhiên, việc cung tiến hiện vật (như bia đá, cây cảnh, đồ tế khí) mang tính tự phát, khoảng 30% hiện vật tiếp nhận không phù hợp với không gian kiến trúc thời Hậu Lê.
  4. Hạn chế về năng lực chuyên môn của nhân lực quản lý cơ sở: 100% cán bộ văn hóa - xã hội cấp xã làm công tác kiêm nhiệm, chưa qua đào tạo bài bản về bảo tồn - trùng tu di tích, dẫn đến việc lập hồ sơ chống xuống cấp và báo cáo kiểm kê di vật định kỳ còn lúng túng, hình thức.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ cơ chế phối hợp liên ngành chưa được thể chế hóa bằng quy chế hoạt động cụ thể giữa chính quyền xã và tổ chức tôn giáo sở tại. Kinh phí từ ngân sách nhà nước cấp cho việc chống xuống cấp di tích hàng năm chỉ đáp ứng dưới 20% nhu cầu thực tế, buộc địa phương phải dựa hoàn toàn vào nguồn lực xã hội hóa nhưng lại thiếu công cụ kiểm soát chất lượng bảo tồn.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu nguồn vốn bảo tồn (phân tách rõ 80% vốn xã hội hóa từ cộng đồng và 20% vốn chương trình mục tiêu quốc gia), kết hợp bảng ma trận phân quyền trách nhiệm giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Thọ, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Phù Ninh và Ủy ban nhân dân xã An Đạo. So sánh với các nghiên cứu về di tích làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ, chùa Hoàng Long có lợi thế vượt trội về sự tham gia tự nguyện của 11 khu dân cư, nhưng lại bộc lộ lỗ hổng lớn trong công tác thẩm định mỹ thuật cổ vật cung tiến.

+-----------------------------------------------------------------------------+
| CƠ CẤU NGUỒN VỐN BẢO TỒN VÀ TRÙNG TU TẠI CHÙA HOÀNG LONG                   |
+-----------------------------------------------------------------------------+
| Nguồn vốn Xã hội hóa (Công đức, tài trợ từ 950 Phật tử & du khách) : [ 80% ] |
| Ngân sách Nhà nước (Chương trình mục tiêu chống xuống cấp di tích)  : [ 20% ] |
+-----------------------------------------------------------------------------+

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Ban hành Quy chế phối hợp quản lý di tích cấp cơ sở: Ủy ban nhân dân huyện Phù Ninh và Ủy ban nhân dân xã An Đạo cần xây dựng và ban hành Quy chế phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm giữa Ban Quản lý di tích xã và Trụ trì chùa Hoàng Long; mục tiêu đạt 100% hoạt động tu bổ, tiếp nhận hiện vật cung tiến phải được thẩm định chuyên môn trước năm 2020.
  2. Lập và phê duyệt Đề án quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ chủ trì phối hợp lập dự án tu bổ cấp thiết các cấu kiện gỗ tòa Bái Đường (dài 12m40) và Chính Điện theo đúng quy định tại Nghị định số 70/2012/NĐ-CP; hoàn thành nghiệm thu kỹ thuật trong giai đoạn 2019 - 2022.
  3. Số hóa hồ sơ khoa học và đào tạo chuẩn hóa nhân lực: Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Phù Ninh triển khai số hóa 3D toàn bộ 27 pho tượng cổ, lập mã định danh cho cây hương đá năm 1709; tổ chức tối thiểu 2 khóa tập huấn nghiệp vụ bảo quản hiện vật hàng năm cho cán bộ xã và đại diện Ban Phật giáo từ năm 2018.
  4. Phát huy vai trò giám sát cộng đồng và kết nối du lịch văn hóa: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã An Đạo thành lập Tổ giám sát cộng đồng tại 11 khu dân cư, thực hiện công khai minh bạch 100% nguồn thu công đức; chủ động kết nối chùa Hoàng Long vào tuyến du lịch Đền Hùng - Việt Trì qua tuyến đường vành đai Âu Cơ (cách chùa 300m) nhằm tăng trưởng nguồn thu tái đầu tư từ 15% đến 20% mỗi năm.
       LỘ TRÌNH TRIỂN KHAI CÁC NHÓM GIẢI PHÁP (2018 - 2022)
       

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý nhà nước về văn hóa: Các chuyên viên thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Phù Ninh và công chức văn hóa - xã hội cấp xã sử dụng luận văn làm cẩm nang hướng dẫn xây dựng quy chế phân cấp quản lý di tích cấp quốc gia tại địa bàn nông thôn.
  • Học viên, giảng viên và nhà nghiên cứu ngành Quản lý văn hóa, Di sản học: Nguồn tài liệu học thuật giá trị cung cấp khung phân tích thực chứng về quản lý di tích Phật giáo thời Hậu Lê và phương pháp xử lý mâu thuẫn giữa bảo tồn nguyên gốc và nhu cầu sinh hoạt tôn giáo đương đại.
  • Ban Trị sự Phật giáo, Sư trụ trì và Ban Hộ tự các cơ sở thờ tự: Tham khảo mô hình quản trị tài chính công đức minh bạch, quy trình tiếp nhận cổ vật đúng Luật Di sản văn hóa và kinh nghiệm huy động sức mạnh của 950 Phật tử trong việc giữ gìn cảnh quan tôn nghiêm.
  • Doanh nghiệp lữ hành và nhà hoạch định chiến lược du lịch: Khai thác các dữ liệu về vị trí địa lý (cách Đền Hùng 5 km, cách cao tốc Nội Bài - Lào Cai 4 km) và 2 km đê ven sông Lô để thiết kế các tour du lịch tâm linh - sinh thái đặc sắc kết nối vùng di sản đất Tổ.

Câu hỏi thường gặp

Giá trị lịch sử và nghệ thuật nổi bật nhất của chùa Hoàng Long là gì?
Chùa Hoàng Long khởi dựng năm 1709 (Vĩnh Thịnh năm thứ 5), lưu giữ cây hương đá cao 1m40, chuông đồng đúc năm 1745 và hệ thống 27 pho tượng Phật - Thần tạo tác tinh xảo từ thời Lê thế kỷ 18. Đây là di tích cấp quốc gia tiêu biểu nằm trong không gian văn hóa cội nguồn Đền Hùng của tỉnh Phú Thọ.

Luận văn chỉ ra những bất cập cốt lõi nào trong mô hình quản lý chùa Hoàng Long?
Bất cập lớn nhất là sự thiếu đồng bộ giữa cơ quan quản lý Nhà nước (Ủy ban nhân dân xã An Đạo) và chủ thể tôn giáo trực tiếp trông coi (sư trụ trì, 950 Phật tử). Sự phối hợp chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng chậm trễ trong lập quy hoạch tu bổ và thiếu sự thẩm định chuyên môn đối với các hiện vật công đức tự phát.

Cơ sở pháp lý chính yếu nào được áp dụng để quản lý di tích chùa Hoàng Long?
Công tác quản lý căn cứ trên Luật Di sản văn hóa (2001, sửa đổi 2009), Quyết định xếp hạng số 04/2001/QĐ-BVHTT, Nghị định số 70/2012/NĐ-CP về tu bổ phục hồi di tích, Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL và các văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện Phù Ninh như Công văn số 326/UBND-VH&TT năm 2016.

Cộng đồng dân cư xã An Đạo đóng vai trò cụ thể ra sao trong bảo tồn di tích?
Cộng đồng là chủ thể bảo vệ trực tiếp với mạng lưới 950 Phật tử phân bổ khắp 11 khu dân cư. Người dân đóng góp hàng nghìn ngày công lao động, duy trì vệ sinh cảnh quan hàng tuần và đóng góp trên 80% nguồn kinh phí xã hội hóa phục vụ trùng tu, tôn tạo các công trình phụ trợ qua nhiều giai đoạn.

Giải pháp đột phá nào được đề xuất nhằm phát huy giá trị kinh tế - du lịch của di tích?
Nghiên cứu đề xuất kết nối chùa Hoàng Long vào tuyến du lịch trọng điểm Đền Hùng - thành phố Việt Trì qua tuyến đường vành đai Âu Cơ (cách chùa 300m), khai thác lợi thế 2 km bờ đê sông Lô để phát triển mô hình du lịch sinh thái gắn với không gian tâm linh 300 năm tuổi.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia gắn liền với đặc thù quản lý làng xã vùng trung du Bắc Bộ.
  • Đánh giá chân thực thực trạng bảo tồn 27 pho tượng cổ và các hạng mục kiến trúc trải qua hơn 300 năm lịch sử (từ năm 1709 đến nay).
  • Làm rõ mối quan hệ tương hỗ và những điểm nghẽn về phân cấp trách nhiệm giữa chủ thể Nhà nước và chủ thể cộng đồng với 950 Phật tử tại 11 khu dân cư.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp khả thi nhằm chuẩn hóa quy trình tu bổ, số hóa hồ sơ hiện vật và khai thác giá trị du lịch văn hóa bền vững.
  • Đóng góp nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác phục vụ trực tiếp cho công tác hoạch định chính sách văn hóa của huyện Phù Ninh và tỉnh Phú Thọ.

Công trình mở ra lộ trình hành động thiết thực giai đoạn 2018 - 2025 nhằm giải quyết hài hòa bài toán giữa bảo tồn di sản nguyên gốc và phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Quý độc giả, nhà quản lý và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp cận toàn văn luận văn để ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn quản lý di sản văn hóa.