Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ XÃ AN ĐẠO, HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ 1. Cơ sở lý luận về quản lý Di tích lịch sử, văn hóa 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Quản lý” là việc chăm nom và điều khiển các hoạt động trong một tổ chức: ban quản lý nhân sự, trông nom, giữ gìn và sắp xếp quản lý thư viện, quản lý sổ sách … [28, tr 688], Trong giáo trình Khoa học quản lý có nêu: “Quản lý là một hệ thống bao gồm những nhân tố cơ bản: chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý, công cụ, phương tiện quản lý, cách thức quản lý và môi trường quản lý.
Những nhân tố đó có quan hệ và tác động lẫn nhau để hình thành nên những quy luật quản lý” [35, tr.Mác cho rằng: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [11, tr.29], giải thích cho nội dung này, C. Mác viết: Tất cả mọi hoạt động trực tiếp hay mọi động cơ chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều đều cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng [11, tr. Angghen cho rằng: "Quản lý là một động thái tất yếu phải có khi nhiều người cùng hoạt động chung với nhau khi có sự hợp tác của một số đông người, khi có hoạt động phối hợp của nhiều người” [12, tr.
Theo ý nghĩa thông thường, phổ biến thì quản lý được hiểu là “hoạt 8 động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đôi tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định” [29, tr. Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. Di tích lịch sử văn hóa Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Di tích là các dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học.
Di tích là DSVH được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” [28, tr. Luật Di sản văn hóa ban hành năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Di sản văn hóa năm 2009 quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật Di sản văn hóa có nêu: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm nào đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.7] Như vậy, có thể thấy rằng điểm chung của các khái niệm về Di tích lịch sử văn hóa có nội dung là: Di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đựng các giá trị điển hình của lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử để lại. Quản lý Nhà nước về di tích lịch sử văn hóa Quản lý Nhà nước về văn hoá là hoạt động của bộ máy Nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam. Hay nói cách khác, quản lý Nhà nước về văn hoá là quản lý các hoạt động văn hoá bằng chính sách và pháp luật nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc.
9 Ở đây trong khuôn khổ luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về khái niệm quản lý Nhà nước trong lĩnh vực DTLSVH, với đặc trưng là bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị DSVH. Quản lý DTLSVH có thể hiểu là cơ quan quản lý di tích có trách nhiệm trông coi, giữ gìn, tổ chức các hoạt động bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích, tổ chức bảo vệ di tích với mục tiêu chống xuống cấp cho di tích, để di tích tồn tại lâu dài, tổ chức lập hồ sơ, xếp hạng xác định giá trị và cơ sở pháp lý bảo vệ di tích….Hay nói cách khác DTLSVH là một quá trình theo dõi định hướng và điều tiết quá trình tồn tại và phát triển của các DTLSVH trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của chúng đem lại lợi ích to lớn, nhiều mặt, lâu dài cho cộng đồng dân cư, chủ nhân của các di sản đó. Quản lý DTLSVH cũng chính là sự định hướng, tạo đều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các DTLSVH, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực. Các DTLSVH cần được tôn trọng và bảo vệ vì đây là tài sản vô giá, được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng có hiệu quả những DTLSVH có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của nhân dân. Đặc biệt trong nên kinh tế thị trường có quản lý của Nhà nước như đặc thù của nước ta hiện nay thì văn hóa cần được quản lý và định hướng để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đồng thời bảo tồn được các giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc. Bản thân DTLSVH là một phần quan trọng cấu thành DSVH, vì vậy việc quản lý DTLSVH là một việc cần thiết và phải tiến hành theo nội dung quản lý Nhà nước về di sản được đề cập trong Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành năm 2001, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Di sản văn hóa năm 2009. Nội dung quản lý Nhà nước về DSVH bao gồm: 10 1.
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về DSVH. Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về DSVH. Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về DSVH.
Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị DSVH. Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH. Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị DSVH. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về DSVH [34, tr.
Tám nội dung quản lý nhà nước về DSVH sẽ được áp dụng như các tiêu chí để khảo cứu thực trạng quản lý di tích lịch sử - văn hóa Chùa Hoàng Long, xã An Đạo, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.Cộng đồng Tại Hội nghị quốc tế về di sản văn hoá phi vật thể năm 2002, UNESCO thống nhất định nghĩa về cộng đồng “là những người tự ý thức về sự gắn bó lẫn nhau, điều này được thể hiện ở ý thức về bản sắc chung hoặc các hành vi chung, hoặc các hoạt động chung và lãnh thổ chung”, bao gồm: - Cộng đồng văn hoá: là một cộng đồng mà thông qua văn hoá của mình, qua cách tiếp cận văn hoá hoặc qua sự biến thể từ văn hoá chung mà được phân biệt với các cộng đồng khác. 11 - Cộng đồng bản địa: là một cộng đồng mà các thành viên thuộc cộng đồng này cho rằng họ có nguồn gốc từ một khu vực lãnh thổ nhất định. - Cộng đồng địa phương: là một cộng đồng sống ở một địa phương nhất định. Tiếp cận từ góc độ di sản văn hoá, cộng đồng ở đây được hiểu là tập hợp những người có mối quan hệ gắn bó mang tính lịch sử, có chung nhận thức về bản sắc văn hoá và cùng tham gia vào việc sáng tạo, lưu giữ, bảo tồn di sản của cộng đồng.
Trên cơ sở các nghiên cứu trên, tác giả Nguyễn Thị Thu Trang đã đưa ra một định nghĩa khái quát về cộng đồng như sau: Cộng đồng là một tập hợp những chủ thể văn hóa và những người cùng cư trú ở một khu vực địa lý, có những đặc tính chung về văn hóa, xã hội, cùng thừa nhận một di sản văn hóa là tài sản của họ và một di sản văn hóa phi vật thể nhất định là bản sắc văn hóa của họ. Ý nghĩa của các khái niệm đối với công tác nghiên cứu Muốn nghiên cứu một vấn đề nào đó trước hết phải có một khái niệm chính xác và nhất quán. Hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội được tích lũy trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, học thuyết, phán đoán. Các khái niệm nêu trên là cơ sở khoa học cho công tác nghiên cứu các vấn đề về quản lý DTLSVH nói chung và đề tài nghiên cứu quản lý DTLSVH chùa Hoàng Long nói riêng Từ các khái niệm khoa học đó giúp cho tác giả có thêm các cơ sở lý luận để nghiên cứu, đánh giá, đề ra các giải pháp về quản lý DTLSVH chùa Hoàng Long đúng hướng, không bị lệch nội dung nghiên cứu.
Nội dung quản lý Di tích lịch sử văn hóa 12 1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị của di tích. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di tích. Tổ chức chỉ đạo các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị DSVH; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di tích.
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di tích. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng cho các tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích.