CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan nghiên cứu về đề tài 1. Tổng quan nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học Triết lý quản lý hoạt động giảng dạy thể hiện sự chủ động, hiệu quả trong việc huy động, phân bổ và giám sát nguồn lực giáo dục, nhằm kiến tạo sự phát triển bền vững. Tran Kiểm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tối ưu hoá nguồn lực nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế - xã hội.
Quản lý giáo dục là quá trình tác động tích cực vào hoạt động giảng dạy, hướng tới sự phát triển toàn diện nhân cách học sinh. Nhà quản lý đóng vai trò then chốt trong việc định hướng và thúc đẩy quá trình giáo dục, đảm bảo sự phát triển bền vững của thế hệ tương lai, phù hợp với chiến lược giáo dục quốc gia [35]. Nghiên cứu quốc tế về quản lý hoạt động giảng dạy hiện rất sôi nổi. Theo Spillane và cộng sự (2001), hiệu trưởng là nhân tố then chốt trong phát triển năng lực giáo viên, dẫn dắt và điều phối cải cách trường học.
Vai trò lãnh đạo đổi mới giáo dục phổ thông thuộc về người đứng đầu nhà trường [47]. Tiếp theo, Murphy (2005) tác giả đã nêu trong thực tế vai trò cải tiến trường học được quản lý bởi các nhà quản lý cấp trung, chẳng hạn như trưởng phòng và điều phối viên bộ môn đã được khám phá cho một số thời gian. Tuy nhiên, gần đây, mối liên hệ giữa lãnh đạo giáo viên và nhà trường cải thiện đã được nêu bật và được hỗ trợ bởi bằng chứng cho thấy mối liên hệ giữa lãnh đạo chính và kết quả của học sinh là phần lớn gián tiếp [45]. Ashjari và cộng sự (2014), trong nghiên cứu học sinh trung học ở thành phố Marand, đã đưa ra kết luận rằng: có một mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa động lực học tập và bản thân học tập của học sinh.
Ngoài ra, có một mối quan hệ mật thiết giữa phong cách quản lý giao dịch và can thiệp với học tập tự điều khiển, nhưng không có mối quan hệ mật thiết giữa phong cách quản lý hoạt động dạy học không can thiệp và năng lực học tập tự điều chỉnh [40]. Nghiên cứu năm 2013 của Ariyanpour và cộng sự chỉ ra rằng phương pháp quản lý giảng dạy toán học tác động đáng kể đến kết quả học tập. Phong cách này góp phần quan trọng vào việc nâng cao động lực và thành tích học tập môn Toán của học sinh lớp 5 [39]. Arabzadeh và các đồng nghiệp (2011), trong nghiên cứu của họ đã kết luận rằng học 7 tập tự chủ có tác động trực tiếp và đáng kể đến phong cách quản lý tự do, và cũng đạt được hiệu quả gián tiếp đáng kể, thông qua học tập và định hướng phát triển năng lực cho học sinh (Djigic & Stojiljkovic, 2011, tr.
Trên cơ sở lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nền giáo dục Việt Nam đã chứng kiến những đóng góp đáng kể từ các chuyên gia giáo dục. Những tên tuổi tiêu biểu như Nguyễn Ngọc Quang, Trần Kiểm, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Trần Thị Tuyết Oanh, Lê Phương Nga, Đỗ Hương Trà, Phan Thị Hồng Vinh. [3]; Triết lý quản lý hoạt động dạy học của Trần Kiểm nhấn mạnh tính tự chủ, hiệu quả trong việc huy động, điều phối, giám sát nguồn lực giáo dục, hướng tới mục tiêu phát triển giáo dục hài hòa với nhu cầu kinh tế - xã hội. Ông định nghĩa quản lý dạy học là tác động tích cực của nhà quản lý vào tiến trình giảng dạy, nhằm bồi dưỡng nhân cách học sinh toàn diện, phù hợp với định hướng giáo dục nhà trường.
[37] Quản lý hoạt động giảng dạy, một vấn đề xuyên suốt, đã và đang thu hút sự quan tâm sâu rộng của giới nghiên cứu trong và ngoài nước. Ngày nay, tầm quan trọng của vấn đề này càng được khẳng định, trở thành trọng tâm xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục. Mặc dù các quan điểm nghiên cứu thể hiện sự đa dạng, song đều nhất trí về vai trò then chốt của công tác quản lý đối với hiệu quả giảng dạy và học tập ở mọi cấp bậc giáo dục. “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng theo xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.
Tổng quan nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ bức tranh tổng thể về quản lý dạy học trong môi trường giáo dục trung học. Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Diễm Hằng (2023), về QL hoạt động dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 theo hướng trải nghiệm HS ở các trường TH quận Bình Tân, Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, công tác điều phối và xây dựng kho học liệu điện tử phục vụ giảng dạy môn Tiếng Việt bậc tiểu học theo hướng trải nghiệm toàn diện đã được thực hiện hiệu quả. [27] Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Dung (2020), QL đổi mới 8 PPDH Tiếng Việt ở các trường TH theo hướng tiếp cận phát triển năng lực HS.
Tác giả tập trung đưa ra nội dung quản lý PPDH tiếng việt ở các trường TH theo hướng tiếp cận phát triển năng lực HS, tại các trường TH thuộc thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai có sự thay đổi tích cực rõ rệt. Cụ thể: công tác QL đổi mới PPDH trong các trường TH thuộc thành phố Biên Hòa; Sự nhận thức của GV và CBQL về hoạt động này rất cao. Công tác bồi dưỡng, tập huấn được thực hiện đầy đủ và chất lượng. Song song với đó, chất lượng một số tiết giảng dạy theo PPDH của chương trình GDPT mới chưa đem lại thành quả rõ ràng.
[29] Trong bối cảnh toàn ngành GD&ĐT đang triển khai thực hiện CTGDPT 2018, dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS, việc đề xuất được những biện pháp QL hiệu hoạt động dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 theo hướng trải nghiệm ở các trường TH nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở huyện Đông Anh chính là vấn đề mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu trong luận văn này. Các nghiên cứu về Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học theo hướng trải nghiệm Trên thế giới, quan điểm về dạy học trải nghiệm đã xuất hiện từ rất xa xưa thời cổ đại. Theo Albert Einstein, ông cho rằng “tri thức đến từ sự trải nghiệm” hay các nhà giáo dục hiện đại như Willingham, Karen Warren hay Druism và Owens đều cũng đã nghiên cứu về dạy học trải nghiệm và đánh giá giáo dục trải nghiệm không chỉ giúp phát triển trí nhớ mà nó còn giúp con người phát triển toàn diện từ kỹ năng quan sát, kỹ năng nhận thức và tư duy, kỹ năng cảm nhận, kỹ năng ứng xử hay biểu đạt tình cảm. Thông qua dạy học trải nghiệm, con người cũng có thể phát triển tư duy phản biện, khả năng giao tiếp, phán đoán, hợp tác và sáng tạo.
Ưu thế của giáo dục trải nghiệm này đã được rất nhiều nhà khoa học kiểm nghiệm và chứng minh. Theo nghiên cứu về dạy học trải nghiệm của William Glasser, con người chỉ có thể học được 10% từ việc đọc, 20% từ việc nghe và 80% kiến thức mà chúng ta tiếp thu được là từ các hoạt động trải nghiệm thực tế. Hiện nay, các nghiên cứu về QL hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở HS các trường TH theo hướng trải nghiệm chưa có nhiều. Tuy nhiên cũng có một vài nghiên 9 cứu được thực hiện theo hướng quy trình, đưa ra một vài giải pháp nhằm phát triển QL hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở HS các trường TH theo hướng trải nghiệm.
HĐTN đã có từ rất lâu trong chương trình dạy học nói chung, DHTV nói riêng nhưng mới được hình thành thông qua các hoạt động ngoại khóa. Có rất nhiều quan niệm về hoạt động ngoại khóa, theo quan điểm của tác giả Lê Phương Nga: “hoạt động ngoại khóa được xem là một hình thức hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp, nó đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển hứng thú nhận thức và sáng tạo của HS. Nó không chỉ dành riêng cho những HS có năng khiếu mà dành cho tất cả những HS có hứng thú với môn học, ngoại khóa tạo điều kiện cho GV và HS gần gũi nhau hơn trên cơ sở tính hấp dẫn của môn học và cùng tham gia một hoạt động” [19]. Tác giả đưa ra 8 hình thức hoạt động ngoại khóa môn Tiếng Việt: “Nhóm tiếng Việt, góc tiếng Việt, báo tường, thi HS giỏi tiếng Việt, thi đố, trò chơi ngôn ngữ, tham quan, dạ hội tiếng Việt (HS tham gia dạ hội có thể đọc thơ, giải bài tập lí thú, giải đố, diễn kịch, giao lưu và gặp gỡ các nhân vật thú vị.
Qua hình thức hoạt động ngoại khóa, HS sẽ trở thành chủ thể của mọi hoạt động học tập, lao động vui chơi, khám phá. Đó là tư tưởng GD nhà trường gắn với gia đình và xã hội, đó cũng là tư tưởng mà GD trải nghiệm hướng tới. Từ mô hình học tập trải nghiệm, tác giả Nguyễn Thị Dung (2019) về hoạt động trải nghiệm trong dạy học tiếng việt cho học sinh lớp 4,5 đã đề xuất quy trình tổ chức HĐTN trong DHTV chú trọng tới việc tổ chức các HĐTN, tạo điều kiện cho người học tham gia vào các hoạt động, tiến hành các hoạt động, phân tích, đánh giá các hoạt động đó. Điểm tựa để tổ chức các HĐTN đó là tri thức, kinh nghiệm của HS.
Quy trình tổ chức HĐTN trong DHTV cho HS lớp 4, 5 gồm các bước sau [21]: Bước 1: Hoạt động huy động kiến thức sẵn có và trải nghiệm cụ thể. HS cần được tạo điều kiện huy động kiến thức, kinh nghiệm đã có vào quá trình tiến hành các HĐTN thuận lợi, hiệu quả. GV hỗ trợ, hướng dẫn HS chuẩn bị các HĐTN chu đáo, dành thời gian thích đáng và có hình thức khơi gợi, khích lệ HS tham gia vào các HĐTN, để lại ấn tượng đặc biệt cho các em Bước 2: Hoạt động chiếm lĩnh. HS vừa có thể “bước vào” vừa có thể “bước ra” khỏi nội dung bài học một cách linh hoạt, HS được hướng dẫn để nhìn lại quá 10 trình trải nghiệm của mình và thu về kiến thức, kĩ năng bài học.
Tiến hành các HĐTN cần được phối hợp chặt chẽ, tạo cơ hội cho HS tích cực hoạt động, hình thành kiến thức, kĩ năng hướng tới phát triển năng lực một cách tốt nhất.