CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ DẠY HỌC THỰC HÀNH NGHỀ TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam được hình thành trên 50 năm. Điều 32 Luật Giáo dục năm 2005 quy định giáo dục nghề nghiệp bao gồm: Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ 3 đến 4 năm đối với người tốt nghiệp trung học cơ sở, từ 1 đến 2 năm đối với người tốt nghiệp phổ thông trung học và dạy nghề dưới 1 năm đối với sơ cấp và từ 1 đến 3 năm đối với trung cấp nghề và cao đẳng nghề. Qua phân tích đặc trưng của một số nước về hệ thống giáo dục nghề nghiệp ta thấy hệ thống giáo dục nghề nghiệp được hình thành do yêu cầu của thị trường lao động và do nhu cầu hoạt nghề nghiệp, nhu cầu việc làm của người lao động trong xã hội.
Hệ thống giáo dục nghề nghiệp là cung cấp cho xã hội, cho thị trường lao động những kỹ thuật viên trung cấp và công nhân kỹ thuật trung cấp và công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ có trình độ cao, năng lực hành nghề thể hiện ở các kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm làm việc được đào tạo trong các cơ sở đào tạo. Hình thức đào tạo nghề nghiệp phong phú và đa dạng: Đào tạo dài hạn và đào tạo ngắn hạn; đào tạo chính quy và đào tạo không chính quy; đào tạo tại các trường hay các trung tâm dạy nghề. Đặc trưng nổi bật của hệ thống nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kỹ năng, kỹ xảo hành nghề trên cơ sở nắm vững lý thuyết. Do đó vấn đề dạy thực hành, luyện tập kỹ năng là những hoạt động cốt lõi trong quá trình đào tạo.
Sức mạnh của hệ thống giáo dục nghề nghiệp và chất lượng đào tạo cao là sự đảm bảo hoạt động có hiệu quả của thị trường lao động. Đó cũng là cơ sở để thị trường lao động có thể thực hiện được các quy luật cung cầu, quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh. Như chúng ta biết đào tạo nghề có vai trò quan trọng trong hệ thống đào tạo nguồn lao động có trình độ tay nghề lực đáp ứng sự nghiệp công 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Cùng với các phân hệ khác trong hệ thống giáo dục quốc dân - giáo dục nghề nghiệp trực tiếp góp phần đào tạo nhân lực lao động kỹ thuật với tỷ trọng cao trong tháp nhân lực quốc gia.
Quản lý và các chức năng, phương pháp quản lý 1. Quản lý Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo dục 1998, thuật ngữ quản lý được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. Trong khía cạnh khác “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” (Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr. Nghiên cứu về quản lý có rất nhiều quan niệm khác nhau.
Các quan niệm này phản ánh những mặt, những chức năng cơ bản của quản lý, song về cơ bản các quan niệm đều khẳng định đến chủ thể, đối tượng quản lý, nội dung phương thức và mục đích của quá trình quản lý.Marx: “Quản lý là lao động điều khiển lao động”.Mác – Ăngghen: Toàn tập, tập 25, phần II, tr.Mác đã coi việc xuất hiện quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại.Mác đã viết: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân… Một nhạc sỹ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”. Quản lý là một hoạt động có chủ đích, có định hướng được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý. Trong mỗi chu trình quản lý chủ thể tiến hành những sách; hoạch định kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, điều hòa, phối hợp, kiểm tra đánh giá và huy động, sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực cơ bản như tài lực, vật lực, nhân lực… Để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý là một quá trình động liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại, có nhiều quan điểm về khái niệm quản lý, theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: Quản là giữ gìn, cai trị, duy trì, biết tạo ra sự ổn định cho mình và cho cộng đồng.
Lý là chỉnh sửa, biết tạo ra sự phát triển, đổi mới cho mình và cho cộng đồng. Quản lý là đưa tới sự ổn định và phát triển, chống lại cái lạc điệu, lạc hậu Quanh khái niệm quản lý còn có rất nhiều định nghĩa khác nhau. Frederick Winslow Taylor (1856-1915) là nhà thực hành quản lý khoa học về lao động đã nghiên cứu sâu các thao tác các quá trình lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng công cụ, phương tiện lao động có hiệu quả nhất với năng suất và chất lượng lao động cao nhất. Ông đã đưa ra định nghĩa: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
Theo ông có bốn nguyên tắc quản lý khoa học (The Principles of Scientific Management): 1. Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định phương pháp tốt nhất để hoàn thành; 2. Tuyển chọn người và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng phương pháp khoa học; 3. Người quản lý phải hợp tác đầy đủ, toàn diện với người bị quản lý để đảm bảo chắc chắn rằng họ làm theo phương pháp đúng đắn; 4.
Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng giữa người quản lý và người bị quản lý.Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. Hery Fayol (1841-1925) đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt động quản lý và phân biệt thành 5 chức năng cơ bản: “kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” và sau này được phối hợp thành 4 chức năng cơ bản của quản lý: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Nghiên cứu của ông đã khẳng định rằng, khi con người lao động hợp tác thì điều quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành.
Theo nghiên cứu của mình, ông đã đưa ra 14 nguyên tắc trong quản lý là: phân công lao động, quyền hạn, kỷ luật, thống nhất chỉ huy, thống nhất chỉ đạo, quyền lợi cá nhân phải phục tùng quyền lợi chung, tiền lương xứng đáng, tập trung hóa, sợi dây quyền hạn, trật tự, bình đẳng, ổn định đội ngũ, sáng kiến và tinh thần đồng đội…Những cống hiến của ông về lý luận quản lý đã mang tính phổ biến cao và nhiều luận điểm đến nay vẫn còn giá trị khoa học và thực tiễn. Theo quan điểm tác giả đề tài, để phù hợp với đề tài thì khái niệm về quản lý được định nghĩa như sau: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.2 Các chức năng quản lý Từ những quan niệm chung về quản lý, chúng ta thấy quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó. Khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định thì quản lý được tách ra thành một chức năng riêng của lao động xã hội, từ đó xuất hiện những bộ phận người, những tổ chức và cơ quan chuyên hoạt động quản lý - đó là những chủ thể quản lý, số còn lại là những đối tượng quản lý hay còn gọi là khách thể quản lý. Quản lý có 4 chức năng cơ bản: lập kế hoạch; tổ chức; lãnh đạo; kiểm tra.
Lập kế hoạch: là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ thống, các 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quy định, thể thức, các hoạt động và các điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó. Tổ chức: tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và nguồn lực cho các bộ phận, các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả. Lãnh đạo: là quá trình tác động đến các thành viên của tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác nỗ lực phấn đấu đạt các mục tiêu của tổ chức. Kiểm tra: là những hoạt động của chủ thể quản lý nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, mặt hạn chế, qua đó đánh giá, điều chình và xử lý những kết quả của quá trình vận hành tổ chức, làm cho mục đích của quản lý được thực hiện hóa một cách đúng hướng và có hiệu quả.
KẾ HOẠCH TỔ CHỨC LÃNH ĐẠO KIỂM TRA Sơ đồ 1. Chức năng quản lý Các chức năng trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chúng gắn bó, đan xen nhau, thúc đẩy, tạo điều kiện và làm tiền đề cho nhau phát triển. Các phương pháp quản lý Các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý cho rằng: để hoạt động quản lý đạt được hiệu quả cao thì quá trình quản lý không thể thiếu các cách thức, cách làm, cách tiến hành…, tác động vào đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích đã đề ra, thì cách thức đó được hiểu là phương pháp của quản lý. Phương pháp quản lý được nhóm thành các nhóm sau: 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.