Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về dạy học theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề Từ những năm 50 của thế kỷ XX ở các nước xã hội chủ nghĩa, các nhà GD đã bắt đầu quan tâm đến việc PTNL nghề nghiệp cho người học trong đào tạo nghề. Đến những năm 70 của thế kỷ XX, DH tiếp cận NL được nhiều nhà nghiên cứu chú ý và ứng dụng vào đào tạo nghề.
Trong tác phẩm “Khoa học sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các NL ở nhà trường”, Xavier Roegiers cho rằng: “ngoài khía cạnh kiến thức đơn thuần, nhà trường trước hết phải tập trung cố gắng dạy cho HS sử dụng kiến thức của mình vào các tình huống có ý nghĩa đối với HS, hay nói cách khác nhà trường cần phát triển những NL ở HS” [34]. Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, lượng thông tin, tri thức theo đó cũng bùng nổ một cách chóng mặt. DH tiếp cận nội dung trong các nhà trường trở nên lỗi thời, không còn phù hợp bởi, các mô hình DH tiếp cận nội dung phải chuyền dần sang mô hình DH tiếp cận NL nhằm đáp ứng yêu cầu yêu cầu của thời đại: “Học để chung sống; Học để biết; Học để làm và Học để tồn tại”. Mô hình DH tiếp cận NL trong GD phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới như Anh, Mỹ, Úc,… Các nghiên cứu về DH tiếp cận NL cũng nở rộ.
Tiêu biểu là các nghiên cứu của Robert Z.Strenberg và Wendy M.William về tư duy sáng tạo và phát triển sáng tạo, lý thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner. Howard Gardner cho rằng con người có “7 loại trí thông minh và để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống thì con người cần huy động nhiều loại trí tuệ. Sự phối hợp nhiều loại trí tuệ đó tạo thành NL cá nhân” (Dẫn theo [31, tr.14] 5 Raija Roy Singh, nhà GD học người Ấn Độ, nguyên giám đốc UNESCO Châu Á - Thái Bình Dương đã khẳng định “DH không chỉ là việc truyền thụ tri thức mà còn phải hình thành, phát triển cho HS các NL cơ bản, cần thiết để thích ứng với cuộc sống, công việc” [23, tr. Ở nước ta, năm 1945, ngay sau khi giành được độc lập, Hồ Chí Minh đã bắt tay vào việc xây dựng nền GD mới.
Quan điểm về nền GD hướng đến PTNL của Hồ Chí Minh hiện nay vẫn còn nguyên giá trị. Trong “Thư Bác Hồ gửi HS nhân ngày khai trường năm 1945”, Bác viết: “Ngày nay các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền GD của một nước độc lập, một nền GD nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền GD làm phát triển hoàn toàn những NL sẵn có của các em” (Dẫn theo [35]) Hiện nay, trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đặc biệt khi CTGDPT 2018 chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận PTNL, vấn đề DH theo hướng PTNL được nhiều nhà GD, nhà nghiên cứu quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó nhiều nghiên cứu tập trung vào việc thực hiện CTGDPT 2018 theo hướng PTNL. Tác giả Lê Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội trong cuốn “DH theo định hướng hình thành và PTNL người học ở trường phổ thông” [31] đã nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về NL, DH tiếp cận NL, xác định hệ thống NL chung và NL đặc thù được hình thành và phát triển cho người học ở trường phổ thông trung học và đưa ra những định hướng DH theo tiếp cận NL ở trường phổ thông trung học Trong đó, NLGQVĐ là một bộ phận của các NL cần được hình thành cho HS. Nhóm các tác giả Lê Huy Hoàng, Đỗ Hương Trà, Đinh Quang Báo,… với mục tiêu cung cấp các vấn đề lý luận về DH PTNL và định hướng DH PTNL ở từng môn học đã xuất bản bộ sách “DH PTNL Môn Công Nghệ, Vật lý, Sinh học, Địa lý,….
Bộ sách là cơ sở về lý luận cũng như bộ công cụ hướng dẫn đội ngũ GV cấp THCS triển khai thực hiện DH theo hướng PTNL theo CTGDPT 2018 hiện nay. 6 Cũng trong bộ sách trên, tác giả Đỗ Đức Thái ngoài việc cung cấp những vấn đề lý luận về DH PTNL môn Toán, đã đưa ra những định hướng về PP DHMT ở THCS theo định hướng PTNL như “hướng dẫn thiết kế bài soạn PTNL môn Toán, định hướng các PP, hình thức tổ chức DH và hướng dẫn thực hiện KT ĐG kết quả học tập môn Toán theo hướng PTNL người học” [26]. Trong đó, NLGQVĐ được đề cập đến như một bộ phận và cũng là một mục tiêu cần đạt của DH Toán học theo CTGDPT hiện nay. Trong cuốn “DHMT cấp THCS theo hướng PTNL HS” [21] tác giả Phạm Đức Quang, Lê Anh Vinh (chủ biên) đã nghiên cứu những vấn đề chung về DH theo hướng PTNL người học, xác định những NL mà môn Toán THCS có cơ hội hình thành và phát triển và những vấn đề cơ bản về KT, ĐG kết quả học tập môn Toán ở THCS theo hướng PTNL người học.
Tài liệu này cũng hướng dẫn chi tiết việc thiết kế và tổ chức DHMT ở THCS theo định hướng PTNL người học. Trong đó, NLGQVĐ là một NL mà nhóm tác giả xác định có cơ hội hình thành và phát triển thông qua DHMT. Nhiều tác giả khác nghiên cứu ở các phạm vi nhỏ hơn, cụ thể hơn về PTNLGQVĐ cho HS ở trường THCS trong DHMT như các tác giả Phạm Đức Tài [25], Lê Văn Tuyên [33], Lê Thị Đặng Chi, Trần Trung Ninh [7, tr. 15- 21,…nghiên cứu về PTNLGQVĐ cho HS qua việc ứng dụng CNTT, sử dụng PP bàn tay nặn bột, nghiên cứu về ĐG NLGQVĐ thông qua hồ sơ học tập của HS,… Tác giả Hoàng Thị Thanh đã trình bày những vấn đề cơ bản về NLGQVĐ và đề xuất một số biện pháp PTNLGQVĐ và sáng tạo cho HS THCS miền núi thông qua giải quyết các bài toán hình học có nội dung gắn với thực tiễn.
Có thể thấy rằng, với yêu cầu đổi mới GD hiện nay, DH theo hướng PTNL nói chung và DH theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề nói riêng là những nội dung được nhiều nhà nghiên cứu, nhà GD quan tâm. Các nghiên cứu về DH theo hướng PTNL và DH theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn 7 đề được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, là nguồn tài liệu để luận văn xây dựng hệ thống lý luận về DHMT ở trường THCS theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề. Những nghiên cứu về quản lý dạy học môn Toán ở trường trung học cơ sở theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề Trong yêu cầu đổi mới GD hiện nay, đổi mới QL GD là một nhiệm vụ trọng tâm, là yếu tố đảm bảo sự thắng lợi của GD. Đảng ta khẳng định: "Đổi mới căn bản, toàn diện GD Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế QL GD, phát triển đội ngũ GV và CBQL GD là khâu then chốt"[10, tr.
Vấn đề QL GD nói chung và QL HĐDH trong bối cảnh đổi mới GD là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu. Tác giả Đặng Quốc Bảo trong cuốn “Một số tiếp cận mới về khoa học QL và vận dụng vào QL” [1] đã đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản về QL như khái niệm QL, QL GD, một số mô hình GD hiện nay, trong đó có mô hình GD tiếp cận NL. QL HĐDH theo hướng PTNL còn được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu chung về QL HĐDH của các tác giả như Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Phạm Viết Vượng,… Nghiên cứu về “QL HĐDạy học môn Toán theo hướng PTNL HS ở các trường THCS huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh” [20] của tác giả Phạm Thanh Nghị là một nghiên cứu ứng dụng nhằm đề xuất các biện pháp QL Dạy học môn Toán theo hướng PTNL cho HS ở một địa bàn có đặc thù nhất định. Những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp những vấn đề lý luận cơ bản về DH theo định hướng PTNL và QL DH ở trường THCS theo định hướng PTNL.
Tuy nhiên, nghiên cứu có tính hệ thống, cụ thể về cả lý luận và thực tiễn vấn đề QL DHMT ở trường THCS theo định hướng phát triển một NL cụ thể còn là vấn đề nghiên cứu mới, chưa có nhiều công trình đi sâu vào khai thác, trong 8 đó có những nghiên cứu về tác động của hoạt động QL đến PTNLGQVDD cho HS thông qua DH môn học. Vì vậy, QL DHMT ở trường THCS theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề ở các trường THCS thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên là vấn đề có tính mới, cấp thiết trong bối cảnh thực hiện CTGDPT 2018 môn Toán ở cấp THCS hiện nay. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy học 1.
Quản lý Có nhiều quan niệm khác nhau về QL, nhưng nhìn chung, các quan điểm về QL đều có những điểm chung, thống nhất. Từ sự phân tích những định nghĩa về QL, luận văn đưa ra định nghĩa như sau: “QL là những tác động của chủ thể QL một cách có định hướng, có kế hoạch, mục đích đến đối tượng và khách thể QL nhằm thực hiện, điều hành, phối hợp các hoạt động trong tổ chức, khai thác các nguồn lực hiệu quả nhằm đưa tổ chức đạt được các mục tiêu đã đề ra”. Quản lý giáo dục Bàn về QL GD, Phạm Minh Hạc cho rằng: "QLNT, QL GD nói chung là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD và thế hệ trẻ. Đặng Quốc Bảo nhận định: "QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội" [2, tr.
Luận văn lựa chọn tiếp cận theo quan điểm: "QLGD là tập hợp những biện pháp tổ chức, PP GD, kế hoạch hoá tài chính, cung tiêu… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống GD, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng, cũng như về chất lượng" 28, tr.