đặt vấn đề tích hợp giới tính ở môn Sinh học 9 là phù hợp với đặc điểm cũng như lứa tuổi của học sinh. Tác giả Nguyễn Thị Thinh với công trình "Quản lý hoạt động dạy học tích hợp tại các trường THCS quận Nam Từ Liêm - thành phố Hà Nội" đã nhấn mạnh về việc dạy học tích hợp. Những công trình nghiên cứu trên đã bàn về nhiều khía cạnh mặt khác nhau về khoa học cũng như kĩ thuật trong vấn đề dạy học, quản lí hoạt động dạy học tích hợp tại trường THCS. Tuy nhiên, đến nay cũng không có công trình nào nghiên cứu được đầy đủ, chi tiết, có tính chất hệ thống hoá đối với vấn đề quản lí hoạt động dạy học theo chuyên đề tích hợp tại trường THCS.
Các công trình nghiên cứu nêu trên là những tư liệu quý báu, là căn cứ giúp tôi tham khảo, bổ sung, hoàn thiện và phát huy trong thời gian làm luận văn. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý, môn học tích hợp 1. Quản lý Chúng ta có thể định nghĩa khái niệm quản lý theo nhiều góc độ khác nhau.
quản lý là khái niệm thuộc phạm trù lịch sử, gắn với quá trình ra đời và 11 phát triển của xã hội loài người, sự phân chia sức lao động ngày càng đa dạng, phức tạp và tinh vi, quá trình lao động gắn liền với quá trình quản lý, khó lòng mà xác định khái niệm quản lý ra đời từ ngày nào, chỉ có thể tưởng tượng khái niệm ấy đã sớm manh nha ra đời ngay khi có sự phân công sức lao động trong từng nhóm cá thể, những tộc người. Theo quan niệm của Thomas.Robins and Wayned Morrison: "Quản lý là một công việc nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học". Theo quan điểm của W. Taylor: "Quản lý là sự phải biết rõ những gì bạn mong muốn người khác thực hiện, và từ đấy biết rõ được họ đã hoàn thành nó cách tốt nhất và hiệu quả nhất".
Theo Harold Koontz, Cyri O ’ Donnell and Heinz Weihrich viết: "Quản lý là một hoạt động cần thiết bảo đảm sự hoạt động liên tục của mỗi cá thể nhằm thực hiện tốt những mục đích của mình". Hiện nay khái niệm về quản lý có thể định nghĩa và diễn tả theo nhiều nghĩa khác nhau. Ở Việt Nam, cũng liên quan đến việc quản lý và quan niệm về quản lý, một số tác giả trong nước đã đưa ra những quan niệm, định nghĩa về quản lý như sau: Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: "Quản lí là can thiệp có mục tiêu, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến tất cả những người lao động (chủ thể quản lí) nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định". Theo tác giả Trần Quốc Thành nhận định như sau: "Quản lý là việc can thiệp của chủ thể quản lý nhằm chỉ huy, điều khiển, định hướng những hiện tượng xã hội, tâm lý và hành vi của xã hội, nhằm đạt được mục tiêu thích hợp với ý muốn nhà quản lý, phù hợp với lẽ thiên nhiên".
Nhóm tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí nhằm đạt mục tiêu đề ra”. Từ những thuật ngữ, khái niệm trên về quản lý, chúng ta thấy được khái niệm quản lý có thể tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau, như: tiếp cận theo 12 hành vi quan hệ cá nhân, tiếp cận theo thuyết hành vi, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận theo các cơ chế quản lý, tiếp cận theo các quy trình quản lý, và tiếp cận theo hệ thống. Nhưng nói chung có các biểu hiện đặc điểm chung là: - Hoạt động quản lý chỉ thực hiện tại một tổ chức hay một cộng đồng nhất định. - Hoạt động quản lý có hướng đích.
- Hoạt động quản lý có các tác động kết hợp công sức của từng người để hoàn thành mục đích của tổ chức hay một nhóm người. Từ các quan điểm nói trên trên góc độ quản lý, cũng có thể thấy được: Quản lý là quá trình hành động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý đối với mục tiêu quản lý, để đảm bảo rằng tổ chức tồn tại, phát triển đúng với quy luật tự nhiên, qua đó tận dụng và phát huy có tốt nhất những nguồn lực, các điều kiện nhằm hướng đến mục đích cụ thể của tổ chức. Môn học tích hợp Môn học tích hợp là một phương pháp giảng dạy và học tập tổng hợp, trong đó kiến thức và kỹ năng từ hai hoặc nhiều lĩnh vực khác nhau được kết hợp lại để giải quyết các vấn đề phức tạp và thực tế. Thay vì giảng dạy các môn học riêng biệt và cách rời rạc, môn học tích hợp hướng tới việc phát triển kiến thức toàn diện và kỹ năng đa dạng cho học sinh.
Các môn học tích hợp thường kết hợp các ngành như khoa học, công nghệ, kỹ thuật, nghệ thuật, xã hội học và các lĩnh vực khác, nhằm khuyến khích học sinh tư duy sáng tạo, hướng tới giải quyết các vấn đề phức tạp trong thế giới thực. Thông qua môn học tích hợp, học sinh có thể áp dụng kiến thức từ nhiều nguồn vào việc hiểu và giải quyết các vấn đề phức tạp một cách toàn diện và thực tế hơn. Môn học tích hợp cũng giúp học sinh phát triển các kỹ năng quan trọng như làm việc nhóm, tư duy logic, ghi nhớ thông tin, năng lực giải quyết vấn đề, và khả năng ứng dụng kiến thức vào nhiều tình huống khác nhau. Việc 13 tích hợp các môn học cũng giúp học sinh nhìn nhận kiến thức một cách toàn diện và phức tạp hơn, giúp họ hình thành một cái nhìn tổng quan về thế giới xung quanh và sẵn sàng đối mặt với thách thức trong tương lai.
Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 các môn học như: Vật lí, Hóa học, Sinh học được đươc tích hợp thành một bộ môn là Khoa học tự nhiên (KHTN); môn Lịch sử, Địa lí được tích hợp thành môn Lịch sử- Địa lí. Điều đó đặt ra những yêu cầu mới trong việc thực hiện chương trình giáo dục. * Dạy môn học tích hợp "Dạy môn học tích hợp" là quá trình giảng dạy trong đó kiến thức và kỹ năng từ hai hoặc nhiều lĩnh vực khác nhau được kết hợp lại để tạo thành một khung kiến thức toàn diện và thực tế. Trong phương pháp này, giáo viên không giảng dạy các môn học một cách cô lập, mà thay vào đó họ tạo ra các bài học hoặc hoạt động giảng dạy kết hợp các yếu tố từ nhiều môn học.
Việc dạy môn học tích hợp đòi hỏi giáo viên tạo ra các kế hoạch giảng dạy sáng tạo và linh hoạt, tập trung vào việc phát triển các kỹ năng và khả năng tư duy đa dạng cho học sinh. Nhờ vào việc kết nối các kiến thức và kỹ năng từ nhiều lĩnh vực, học sinh được khuyến khích hiểu sâu hơn về mối quan hệ giữa các khái niệm và áp dụng chúng vào các vấn đề trong thế giới thực. Dạy môn học tích hợp có thể áp dụng trong nhiều hình thức giảng dạy, bao gồm cả dạy trong lớp học truyền thống, dự án nghiên cứu, hoạc các hoạt động ngoại khóa và thực tế. Phương pháp này nhằm khuyến khích học sinh phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo, làm việc nhóm, và hỗ trợ học sinh phát triển khả năng áp dụng kiến thức vào nhiều tình huống đời sống khác nhau.
Hoạt động, hoạt động dạy học 1. Hoạt động Mọi hoạt động của con người phải có tính mục đích. Con người xác định rõ mục đích hoạt động của mình, từ đó mới xác định rõ mục đích, 14 phương pháp, động lực của hoạt động để có hiệu quả trong làm việc. Kôndakôp kết luận rằng, "hoạt động của con người là hoạt động có mục đích, có động cơ và mục đích, tức là hoạt động theo một nguyên tắc, là quy luật hoạt động và ràng buộc ý chí con người phụ thuộc theo hoạt động ".
Marx kết luận: "Làm việc cần một sự tập trung cao độ, nhưng sự tập trung ấy cũng có thể là sản phẩm của một sự rèn luyện liên tục của con người". Trong lịch sử của loài người, tính mục đích trong hoạt động cùng cái nhìn thấy lợi ích của hoạt động con người biểu hiện rõ ràng qua hệ thống giáo dục của các xã hội và nhà nước từ trước đến nay. Hoạt động của con người phục vụ cho mục đích dạy – học tập ngày càng được coi trọng và tôn vinh. Dạy học là trồng người.
Trong văn hoá của người Việt, người thầy được xem là một yếu tố vô cùng đặc biệt, làm nên sự nghiệp của con người. Câu thành ngữ "Không thầy đố mày làm nên" có nghĩa như vậy. Theo quan niệm lý luận về hoạt động, A.Leontiev quan niệm rằng hoạt động "là một tập hợp những hành vi con người can thiệp vào sự vật để nhằm mục đích đáp ứng một yêu cầu cụ thể và thường mục đích của hoạt động là sự hiện thực hoá mong muốn của chủ thể". Lý thuyết về hoạt động nhấn mạnh vai trò của chủ thể hoạt động.
Chủ thể (con người) tự tổ chức, điều hành những hoạt động (thể chất, tâm lý, tình cảm, .) tác dụng đến chủ thể (sự vật, trí tuệ,. Hoạt động của con người được khác biệt với hoạt động của con thú nhờ tính chất mục tiêu của hoạt động. Nghĩa là chủ thể (con người) thực thi mục đích của hoạt động, khiến cho "vật chất được đưa vô nơi óc từng cá nhân được biến đổi theo mục đích" (trích theo [19]) (K.Marx) trở thành thực tế. Như vậy, do có hoạt động, con người tạo ra hàng hoá thoả mãn nhu cầu thực tế của xã hội.
Hiểu như trên, hoạt động có những đặc điểm sau đây: 1/Chủ thể của hoạt động - tức là chủ thể điều khiển các hành vi - việc làm theo mục đích, ý muốn nhất định. Trong khi hoạt động, con người phải 15 biết cách thức liên kết các hoạt động lại theo mạng lưới (tổ hợp), chọn lựa, điều hành cho từng hoạt động thích hợp với đối tượng, điều kiện, hoàn cảnh. 2/Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng của hoạt động. Đối tượng của hoạt động là vật chất, kiến thức,.
Con người nhờ hoạt động mà sáng tạo, chiếm lĩnh, khai thác cái (đối tượng) để đáp ứng nhu cầu. 3/Hoạt động có tính chất mục đích. Đây là điểm đặc biệt biểu hiện phẩm chất, khả năng chủ thể trong quá trình chiếm lĩnh đối tượng. Con người dùng những kiến thức, kỹ năng, công cụ nhằm tìm hiểu, nghiên cứu đối tượng biến thành nhân kiến, khả năng của bản thân người (chủ thể hoá đối tượng).