Chương 1 NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY - HỌC MÔN HÓA HỌC THEO HƯỚNG PHÂN HÓA Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Các nghiên cứu về cơ sở khoa học về dạy học theo hướng DHPH -K.Marx khẳng định, “bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố hữu, trong tính hiện thực của nó, con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”[25]. Mỗi cá nhân là chủ thể của một hệ thống các mối quan hệ xã hội phong phú và đa dạng, do đó có bộ mặt nhân cách riêng, có một thế giới tinh thần mang tính riêng độc đáo và không ai giống ai. Một nền giáo dục nhân văn đòi hỏi mục tiêu giáo dục phải toàn diện, nội dung giáo dục phải thiết thực, đa dạng và tương thích đối với từng loại đối tượng, cấu trúc phải mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với yêu cầu và điều kiện của người học.
Cơ sở triết học của DHPH thể hiện ở mâu thuẫn giữa vốn kiến thức và kĩ năng hiện có với những kiến thức, kĩ năng cần thiết của HS về vấn đề được học. Khoảng cách này là khác nhau với từng loại đối tượng HS và để quá trình dạy học đạt hiệu quả, GV cần có tác động sư phạm giúp HS thu hẹp khoảng cách này. Những tác động này cần đưa ra phù hợp với trình độ nhận thức và nhu cầu học tập của mỗi đối tượng HS. Nguyễn Hữu Châu (2008), “Chương trình dựa trên triết lí “Giáo dục vì sự phát triển toàn diện của mỗi con người” Nguyễn Ngọc Quang (1998), Những khái niệm cơ bản về lý luận Quản lý giáo dục.
Nxb Giáo duc ̣. Về tâm lý học, theo Hans Eysenck (1963) trong tác phẩm “Can thiệp nhân cách Eysenck” [17] thì một số đặc điểm cơ bản về các loại thần kinh có ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách, đến quá trình học của các loại đối tượng và do đó liên quan đến định hướng nghề nghiệp. Theo lý thuyết đa thông minh của nhà tâm lý học người Mỹ Howard Gardner (1983[20]) thì “Chúng ta thường rơi vào lối mòn khi nghĩ rằng cách duy nhất để tìm hiểu cái gì đó là đọc sách giáo khoa, hoặc nghe một bài thuyết trình về nó và cách duy nhất cho thấy rằng chúng ta đã hiểu về một vấn đề là trả lời được các câu hỏi 6 kiểm tra. Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn vô nghĩa.
Tất cả mọi thứ đều có thể được giảng dạy bằng nhiều cách”. Thuyết này đã mang lại cách nhìn nhân bản và cần thiết, nhằm kêu gọi nhà trường và GV cần coi trọng sự đa dạng về sự thông minh ở mỗi người học. Theo Lý thuyết Phong cách học tập của hai nhà nghiên cứu Dunn và Price (1979) nhận xét: “Phong cách học là một nhóm các đặc điểm cá nhân có tính sinh học và phát triển mà những cách giảng dạy giống nhau hiệu quả đối với những HS này và không có tác dụng đối với HS khác” [16]. Theo đó, cá nhân chỉ có thể có sự phát triển tối đa khi nhà GD và hệ thống GD đáp ứng những khả năng, nhu cầu và nguyện vọng bằng nhiều chương trình nội dung và nhiều cách thức phù hợp với các nhóm HS khác nhau… -Xuất phát từ chức năng giáo dục, xét đến cùng là giúp mỗi cá nhân phát triển và trên cơ sở đó tạo ra động lực thúc đẩy xã hội phát triển.
DHPH được xem như là một phương pháp tiếp cận DH chủ động. Nhiều nghiên cứu ở Việt Nam gần đây đã đề cập dến DHPH. Trong số đó có một số bài báo và báo cáo khoa học về DHPH đáng chú ý: + Tác giả Nguyễn Thanh Hoàn (2007), với bài viết “Dạy học phân hóa - một vài vấn đề lý luận” [19]. + Theo Tác giả Nguyễn Hữu Châu (2006) thì dạy học phân hóa - mục tiêu, đặc điểm, con đường và quy trình kế hoạch hóa,[6].
+ Tác giả Phạm Quang Huân (2007): “Những căn cứ khoa học và các phương thức thực hiện phân hóa giáo dục”[21]. Kỷ yếu hội thảo khoa học phân hoá giáo dục phổ thông, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. + Tác giả Đặng Thành Hưng (2008): “Cơ sở sư phạm của dạy học phân hóa” [22] Nhìn chung, các tác giả chủ yếu tiếp cận hướng DHPH ở cấp độ vĩ mô. + Giới thiệu rộng rãi cho toàn thể GV về Chuẩn kiến thức, kĩ năng và thái độ của từng môn học.
+ Quy định cụ thể về các yêu cầu phân hóa thể hiện trong chương trình và SGK. + Bồi dưỡng cho GV thể hiện hướng phân hóa trong dạy học các cách thu thập thông tin về năng lực nhu cầu và hứng thú học tập của HS. + Xây dựng môi trường DHPH. 7 + Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để DHPH….
Hầu hết các tác giả cho rằng: Mô hình DHPH đòi hỏi GV phải thay đổi, điều chỉnh kế hoạch giảng dạy, nội dung DH, các yếu tố khác cho phù hợp với nhu cầu HS, thay vì chờ học sinh thay đổi cho phù hợp với nội dung DH. Điều này sẽ tạo cho các em ý thức và trách nhiệm hoàn thành công việc, sự tự tin mà những HS trong một lớp học thông thường có thể không thể có được… Mặt khác, DHPH cho phép tạo ra một môi trường mà ở đó HS là trung tâm của quá trình dạy học, trong đó, HS được yêu cầu hoàn thành một số nhiệm vụ hoặc hoạt động nhất định với nhịp độ của riêng mình. Điều này sẽ giúp cho việc học của các em trở nên thú vị hơn và có ý nghĩa hơn. Giáo viên cần đề ra những mục tiêu cụ thể để tạo điều kiện cho HS cùng tham gia hợp tác và học tập nhưng chính HS mới là người thực hiện và phát triển các kết quả học tập này.
Khi tìm hiểu về các hình thức tổ chức dạy học theo hướng phân hóa hoặc các giải pháp thực hiện định hướng DH này. Dưới đây là một số tác giả nghiên cứu về dạy học phân hóa như : Đặng Thành Hưng (2008), “Cơ sở sư phạm của dạy học phân hóa”, Tạp chí Khoa học giáo dục (số 38) Tôn Thân, Phan Thị Luyến, Đặng Thị Thu Thuỷ (2008), Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học. NXB Giáo dục. Tác giả Nguyễn Quốc Chí (2004), Những cơ sở lý luận của QLGD, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tác giả Harold Koontzm (1998), Những vấn đề cốt yếu của quản lý, NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội. Từ việc kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước, tác giả đi sâu vào nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng dạy học, QLDH phân hóa môn Hóa học, đề xuất biện pháp QLDH môn Hóa học theo hướng phân hóa ở trường THPT - Các nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học phân hóa ở các trường phổ thông + Quản lý DH chính là điều khiển quá trình DH, cho quá trình đó vận hành có khoa học, có tổ chức theo những quy luật khách quan và được sự chỉ đạo, giám sát thường xuyên nhằm thực hiện mục tiêu dạy học. 8 + Quản lý DH theo hướng phân hóa không chỉ giới hạn trong tri thức và kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực phân hóa: +) Nhóm năng lực làm chủ bản thân: Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực quản lý. +) Nhóm năng lực về quan hệ xã hội: Năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác.
+) Nhóm năng lực công cụ (Các năng lực này sẽ được hình thành trong quá trình hình thành các năng lực ở trên): Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực sử dung ngôn ngữ, năng lực làm bài tập. Một số khái niệm cơ bản 1. Hoạt động dạy học Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích luỹ được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm thành phẩm chất và năng lực cá nhân”. Trong nhà trường, DH là hoạt động tương tác giữa GV và HS.
Giáo viên tổ chức, truyền đạt hệ thống những tri thức khoa học mà loài người đã tích lũy được. HS tự tổ chức, tự điều khiển, tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh một cách sáng tạo các kiến thức do giáo viên truyền thụ. Hoạt động dạy và học có mối quan hệ tương tác, hợp tác với nhau cùng phát triển trong một quá trình thống nhất kết quả hoạt động dạy của GV và ngược lại. Dạy học theo hướng phân hóa Các quan điểm về dạy học phân hóa - Theo Từ điển Tiếng Việt Phân hóa được hiểu là chia ra thành nhiều bộ phận khác hẳn nhau.
- Theo Carol Ann Tomlinson, khái niệm DHPH (differentiated instruction) là “làm rõ mục đích học tập bắt nguồn từ các tiêu chuẩn về nội dung, nhưng được thực hiện một cách khéo léo để đảm bảo mọi học sinh đều tham gia và hiểu bài” (Tomlinson, 2008). Bản chất quá trình DHPH là điều chỉnh nội dung kiến thức để đáp ứng nhu cầu, khả năng, kinh nghiệm của người học. Ứng dụng một cách khéo léo DHPH, người dạy sẽ có nhiều cách thức khác nhau để giúp người học đạt được mục tiêu. 9 Trong quá trình DHPH, đôi khi việc chia sẻ các thông tin hoặc tạo ra các hoạt động theo cả lớp sẽ mang lại hiệu quả DH cao, giúp thiết lập nền tảng kiến thức chung và phát triển tinh thần tập thể.
Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng: “Dạy học phân hóa thực chất là tạo ra những khác biệt nhất định trong nội dung và phương thức hoạt động của học trình (tổng thể hoặc ở từng cấp học, lớp học, môn học, bài học) bằng cách thiết kế và thực hiện học trình theo nhiều hướng khác nhau dựa vào nhóm năng lực, hứng thú hoặc nhu cầu học tập của người học và mục tiêu giáo dục xã hội” [22]. Theo tác giả Nguyễn Hữu Châu (2006): “Dạy học phân hoá là một quan điểm dạy học đòi hỏi phải tổ chức, tiến hành các hoạt động dạy học dựa trên những khác biệt của người học về năng lực, sở thích, nhu cầu và các điều kiện học tập, nhằm tạo ra những kết quả học tập tốt nhất cho người học” [6].