Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng giáo dục phổ thông theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết số 88/2014/QH13 đòi hỏi sự chuyển dịch căn bản từ truyền thụ kiến thức thụ động sang phát triển phẩm chất, năng lực cá nhân của người học. Tuy nhiên, tại các cơ sở giáo dục hiện nay, việc áp dụng phương pháp dạy học đồng loạt cho số đông đang bộc lộ nhiều bất cập, làm hạn chế khả năng phát triển tối đa tiềm năng của từng học sinh. Khảo sát tại 3 trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương cho thấy quy mô đào tạo lên tới 2.880 học sinh nhưng tỷ lệ giáo viên bình quân chỉ đạt 2,0 giáo viên trên mỗi lớp, thấp hơn mức chuẩn 2,25 theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất hệ thống biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Hóa học theo hướng phân hóa. Mục tiêu cụ thể là tối ưu hóa quy trình quản lý của Ban giám hiệu và tổ chuyên môn, nâng cao năng lực sư phạm của giáo viên nhằm đáp ứng sự đa dạng về nhịp độ nhận thức của người học. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại 3 trường Trung học phổ thông gồm Bình Giang, Đường An và Kẻ Sặt trong giai đoạn 2017–2018. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp các nhà quản lý trường học tái cấu trúc hoạt động chuyên môn, kéo giảm tỷ lệ học sinh yếu kém môn Hóa học từ mức 5,95% xuống dưới 2%, đồng thời nâng cao tỷ lệ học sinh khá giỏi lên trên 60% tại các đơn vị khảo sát.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa giữa tâm lý học giáo dục hiện đại và khoa học quản lý giáo dục. Trọng tâm là Thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner (1983) khẳng định mỗi cá nhân sở hữu những loại hình trí thông minh khác nhau, đòi hỏi phương thức tiếp cận kiến thức đa dạng; và Thuyết phong cách học tập của Rita Dunn & Kenneth Price (1979) chỉ rõ sự khác biệt sinh học và nhận thức ở từng đối tượng học sinh. Đồng thời, mô hình dạy học phân hóa dạng sóng của Carol Ann Tomlinson (2004, 2008) cung cấp nền tảng vận hành qua việc linh hoạt điều chỉnh nội dung, quy trình và sản phẩm học tập theo nhịp độ cá nhân.

Nghiên cứu tập trung làm rõ 5 khái niệm then chốt:

  • Hoạt động dạy học: Quá trình tương tác biện chứng giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh nhằm biến tri thức xã hội thành phẩm chất, năng lực cá nhân.
  • Dạy học phân hóa vi mô: Quá trình điều chỉnh phương pháp, kỹ thuật, bài tập và nhịp độ dạy học ngay trong từng tiết học nhằm giúp từng đối tượng học sinh đạt chuẩn và vượt chuẩn kiến thức.
  • Dạy học phân hóa vĩ mô: Hình thức tổ chức dạy học thông qua phân ban, phân luồng và xây dựng các chủ đề, chuyên đề tự chọn cấp trường.
  • Quản lý giáo dục: Sự tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu giáo dục tối ưu.
  • Quản lý hoạt động dạy học: Chu trình khép kín gồm 4 chức năng cốt lõi là kế hoạch hóa, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá theo quan điểm của Harold Koontz và Nguyễn Quốc Chí.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ các nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, bao gồm báo cáo tổng kết năm học, hồ sơ quản lý chuyên môn của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hải Dương, số liệu học vụ từ 3 trường Trung học phổ thông nghiên cứu và dữ liệu khảo sát thực địa.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 64 cán bộ quản lý, tổ trưởng chuyên môn và giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Hóa học tại các trường Trung học phổ thông Bình Giang, Đường An và Kẻ Sặt, cùng dữ liệu kết quả học tập của 2.880 học sinh trong năm học 2015–2016. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho toàn bộ đội ngũ quản lý và giáo viên bộ môn Hóa học trong khu vực.

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi sử dụng thang đo 4 mức độ gồm Tốt (3 điểm), Khá (2 điểm), Trung bình (1 điểm) và Yếu (0 điểm). Điểm số được tổng hợp và phân tích bằng công thức tính điểm trung bình trọng số kết hợp phân tích tỷ lệ phần trăm. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm lượng hóa chính xác mức độ nhận thức, tần suất thực hiện các kỹ thuật dạy học phân hóa và hiệu quả chỉ đạo của cán bộ quản lý, từ đó đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học của các kết luận. Quá trình thu thập và xử lý số liệu được triển khai chặt chẽ trong timeline từ năm 2017 đến đầu năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn tại 3 trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Bình Giang mang lại 3 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tồn tại sự lệch pha lớn trong nhận thức của đội ngũ về bản chất dạy học phân hóa. Kết quả phiếu hỏi từ 64 cán bộ quản lý và giáo viên chỉ ra có tới 72% người được hỏi cho rằng dạy học phân hóa chỉ là "phương pháp dạy học" hoặc "hình thức tổ chức dạy học", trong khi chỉ có 28% nhận thức đúng đắn đây là một "quan điểm dạy học" mang tính chiến lược định hướng toàn bộ hoạt động sư phạm.

Thứ hai, cơ cấu đội ngũ giáo viên vừa thiếu về số lượng vừa chưa đồng bộ về chuyên môn. Tỷ lệ giáo viên bình quân đạt 2,0 giáo viên/lớp, thấp hơn đáng kể so với định mức 2,25 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Toàn bộ 146 giáo viên tại 3 trường có tới 85,62% ở độ tuổi dưới 40 (dưới 31 tuổi chiếm 42,47%; từ 31 đến 40 tuổi chiếm 43,15%). Lực lượng giáo viên trẻ nhiệt tình, tiếp cận công nghệ thông tin nhanh nhưng còn thiếu kinh nghiệm tổ chức dạy học phân hóa vi mô. Tỷ lệ giáo viên có trình độ thạc sĩ toàn trường chỉ đạt 6,85% (10/146 người), riêng bộ môn Hóa học có 12 giáo viên nhưng chỉ có 01 người đạt trình độ thạc sĩ (chiếm 8,33%).

Thứ ba, sự phân hóa kết quả học tập môn Hóa học thể hiện rõ nét và có sự chênh lệch lớn giữa các trường. Dữ liệu học lực môn Hóa học năm học 2015–2016 ghi nhận:

  • Trường THPT Bình Giang đạt tỷ lệ học sinh Giỏi 9,20%, Khá 48,50%, Trung bình 39,50% và Yếu 2,80%.
  • Trường THPT Đường An đạt tỷ lệ Giỏi 8,95%, Khá 46,50%, Trung bình 39,80% và Yếu 4,75%.
  • Trường THPT Kẻ Sặt có kết quả thấp nhất với tỷ lệ Giỏi chỉ đạt 5,00%, Khá 35,50%, trong khi học sinh Trung bình chiếm 53,55% và Yếu chiếm tới 5,95%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh lệch học lực môn Hóa học giữa các trường bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ trong quản lý dạy học phân hóa. Khi đối chiếu tỷ lệ học sinh xếp loại học lực chung Yếu (Bình Giang 0,5%; Đường An 1,5%; Kẻ Sặt 2,14%) với tỷ lệ Yếu riêng ở môn Hóa học (Bình Giang 2,80%; Đường An 4,75%; Kẻ Sặt 5,95%), có thể thấy môn Hóa học có tỷ lệ học sinh yếu kém cao gấp 2 đến 5 lần mức trung bình chung. Điều này khẳng định nếu giáo viên không áp dụng dạy học phân hóa vi mô, học sinh có học lực trung bình và yếu sẽ nhanh chóng mất căn bản trước khối lượng kiến thức trừu tượng của môn học.

Kết quả nghiên cứu này hoàn toàn tương thích với các công trình nghiên cứu trước đây của các chuyên gia giáo dục trong nước, khi chỉ ra rằng việc thiếu hụt cơ sở vật chất phòng thí nghiệm và áp lực chương trình khiến giáo viên có xu hướng dạy học cào bằng. Dữ liệu khảo sát thực trạng có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ tròn phản ánh tỷ lệ nhận thức sai lệch của giáo viên (72% so với 28%), kết hợp biểu đồ cột so sánh tương quan giữa tỷ lệ học sinh giỏi và học sinh yếu môn Hóa học giữa 3 nhà trường. Bảng ma trận tương quan giữa 4 chức năng quản lý cũng cho thấy khâu kiểm tra, đánh giá định hướng phân hóa là mắt xích yếu nhất trong chu trình quản lý hiện nay.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học, tác giả đề xuất 4 nhóm biện pháp quản lý đồng bộ:

Thứ nhất, tổ chức chuỗi tập huấn chuyên đề nhằm thống nhất nhận thức cho 100% cán bộ quản lý và giáo viên bộ môn Hóa học. Ban giám hiệu phối hợp cùng các chuyên gia sư phạm tổ chức các buổi hội thảo làm rõ bản chất dạy học phân hóa là quan điểm giáo dục lấy học sinh làm trung tâm, hoàn thành chỉ tiêu 100% giáo viên hiểu đúng và biết cách lập kế hoạch bài dạy phân hóa trong học kỳ 1 của năm học.

Thứ hai, đổi mới công tác chỉ đạo tổ chuyên môn và phân công giảng dạy theo năng lực. Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng chuyên môn cần chỉ đạo tổ Hóa học xây dựng ngân hàng chuyên đề tự chọn, phân công giáo viên giàu kinh nghiệm phụ trách các chuyên đề nâng cao cho học sinh khá giỏi, đồng thời bố trí giáo viên trẻ nhiệt tình kèm cặp nhóm học sinh yếu kém. Mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh khá giỏi môn Hóa học của từng trường lên trên 55% trong lộ trình 12 tháng.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình phân loại học sinh và đa dạng hóa hình thức dạy học phân hóa vi mô. Giáo viên bộ môn Hóa học thực hiện định kỳ tối thiểu 3 bài kiểm tra khảo sát năng lực trong tháng đầu năm học để phân nhóm đối tượng theo nhịp độ nhận thức (khá giỏi, trung bình, yếu kém). Trên lớp, giáo viên chủ động áp dụng phương pháp dạy học theo góc và dạy học theo hợp đồng, giúp mọi học sinh đều đạt chuẩn kiến thức kỹ năng tối thiểu.

Thứ tư, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm và xây dựng môi trường thi đua dạy tốt học tốt. Ban giám hiệu các trường THPT tại huyện Bình Giang cần trích quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp và tham mưu với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hải Dương nâng cấp 100% phòng thực hành Hóa học, trang bị đầy đủ hóa chất, dụng cụ trực quan và phương tiện trình chiếu đa phương tiện trong giai đoạn 2018–2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống giải pháp của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

Nhóm 1: Cán bộ quản lý trường phổ thông (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn). Luận văn cung cấp khung tham chiếu hoàn chỉnh về 4 chức năng quản lý dạy học phân hóa, giúp thiết lập quy trình phân công lao động khoa học và tiêu chí đánh giá giờ dạy theo hướng phát triển năng lực người học.

Nhóm 2: Giáo viên giảng dạy môn Hóa học cấp Trung học phổ thông. Giáo viên có thể trực tiếp ứng dụng quy trình 4 bước tổ chức dạy học phân hóa (chuẩn bị, lập kế hoạch bài dạy 5 hoạt động, thực thi trên lớp và đánh giá cải tiến) cùng các kỹ thuật dạy học theo góc, dạy học theo hợp đồng vào từng bài giảng cụ thể.

Nhóm 3: Học viên cao học và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý giáo dục. Tài liệu đóng vai trò là một case study điển hình với hệ thống bảng hỏi, thang đo 4 mức độ và phương pháp xử lý số liệu thống kê thực chứng rõ ràng để phát triển các đề tài liên quan.

Nhóm 4: Cán bộ chỉ đạo chuyên môn tại các Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo. Cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch, điều chuyển đội ngũ giáo viên đảm bảo định mức 2,25 giáo viên/lớp và xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn hàng năm.

Câu hỏi thường gặp

Dạy học phân hóa môn Hóa học ở cấp độ vi mô khác gì so với cấp độ vĩ mô? Dạy học phân hóa vĩ mô diễn ra ở quy mô toàn trường thông qua việc tổ chức phân ban hoặc xây dựng các chuyên đề tự chọn. Ngược lại, phân hóa vi mô diễn ra trực tiếp trong từng tiết học, nơi giáo viên sử dụng các phiếu học tập, câu hỏi và nhiệm vụ có mức độ phân tầng để hỗ trợ từng nhóm học sinh có nhịp độ nhận thức khác nhau cùng đạt chuẩn.

Làm thế nào để phân loại học sinh môn Hóa học chính xác mà không tạo tâm lý tự ti? Nhà trường và giáo viên thực hiện khảo sát năng lực thông qua 3 bài kiểm tra định lượng kết hợp quan sát thái độ học tập trong tháng đầu năm học. Việc chia nhóm được thực hiện linh hoạt theo từng chủ đề hoặc phong cách học tập, tuyệt đối không gán nhãn cố định nhằm khuyến khích học sinh nỗ lực chuyển nhóm.

Tỷ lệ giáo viên 2,0 giáo viên/lớp ảnh hưởng như thế nào đến việc dạy học phân hóa? Tỷ lệ 2,0 giáo viên/lớp thấp hơn định mức 2,25 của Bộ Giáo dục và Đào tạo khiến định mức tiết dạy của mỗi giáo viên bị quá tải. Giáo viên không có đủ thời gian chuẩn bị hệ thống phiếu học tập đa tầng, thiết kế thí nghiệm thực hành và theo dõi sát sao từng cá nhân học sinh yếu kém.

Vì sao có tới 72% giáo viên chưa hiểu đúng về bản chất dạy học phân hóa? Nguyên nhân chủ yếu do công tác bồi dưỡng chuyên môn trước đây chỉ tập trung giới thiệu các phương pháp dạy học cụ thể mà chưa quán triệt dạy học phân hóa là một quan điểm giáo dục xuyên suốt. Giáo viên thiếu tài liệu hướng dẫn thực hành và ít được dự giờ các tiết học minh họa tiêu chuẩn.

Mô hình phân công giáo viên dạy chuyên đề theo năng lực mang lại hiệu quả gì? Mô hình này phát huy tối đa sở trường chuyên môn của giáo viên giàu kinh nghiệm khi đảm nhận các chuyên đề chuyên sâu cho nhiều lớp, đồng thời tạo cơ hội cho giáo viên trẻ học tập kinh nghiệm qua dự giờ và rèn luyện kỹ năng sư phạm thông qua việc bồi dưỡng nhóm học sinh yếu kém.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý dạy học môn Hóa học theo hướng phân hóa dựa trên 4 chức năng quản lý cốt lõi và các lý thuyết giáo dục hiện đại.
  • Khảo sát thực chứng tại 3 trường THPT huyện Bình Giang với quy mô 2.880 học sinh và 146 giáo viên đã phản ánh bức tranh thực trạng chân thực về việc dạy và học môn Hóa học.
  • Nghiên cứu chỉ ra điểm nghẽn nhận thức then chốt khi 72% cán bộ, giáo viên chỉ coi dạy học phân hóa là phương pháp đơn lẻ thay vì một quan điểm giáo dục chiến lược.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp quản lý đồng bộ từ nâng cao nhận thức, đổi mới sinh hoạt chuyên môn, chuẩn hóa phân loại học sinh đến tăng cường cơ sở vật chất phòng thí nghiệm.
  • Xác lập lộ trình thực thi giai đoạn 2018–2020 nhằm giảm tỷ lệ học sinh yếu kém môn Hóa học xuống dưới 2% và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

Các nhà quản lý giáo dục và quý thầy cô giáo có thể áp dụng ngay các biểu mẫu khảo sát, quy trình phân công chuyên môn và kỹ thuật dạy học phân hóa từ công trình nghiên cứu này để nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng giảng dạy tại đơn vị.