Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý HĐDH của Hiệu trưởng trường THPT Chương 2: Thực trạng quản lý HĐDH của Hiệu trưởng trường THPT các huyện miễn núi, tỉnh Quảng Ngãi Chương 3: Biện pháp quản lý HĐDH của Hiệu trưởng các trường THPT các huyện miền núi, tỉnh Quảng ngãi Cuối luận văn có danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LY HOAT ĐỌNG DẠY HỌC 1.TÔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ HĐDH HĐDH là hoạt động có tính thống nhất trong nhà trường nhằm trang bị hệ thống trí thức, kỹ năng kỹ xảo, hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất, năng lực cần thiết cho học sinh. Quản lý HĐDH là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý nhà trường nhằm thực hiện được các nhiệm vụ dạy học đề ra, đáp ứng được nhu cầu của người học và những đòi hỏi của xã hội. Có nhiều tác giả nước ngoài đã có những nghiên cứu, những tác phẩm. viết về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý HĐDH.
Trong số đó kể đến những tác phẩm nhu: “Education leadership and the community 2002; (Quản lý nhà trường và cộng đồng) của John west-Burnham,Tony Gelsthorpe; “Resource Management in shool" 1997;(Nguồn lực quản lý nhà trường) của Sonia Blandford; “Effective shool leader”,1999; (Những người lãnh đạo nhà trường có hiệu quả) của John Mcbeath, Kate Myers “Effective learing in shool", 1997. Các tác phẩm này đã đề cập đến các vấn đề quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, các HĐDH cũng như phẩm chất của người lãnh đạo trường học. Ở Việt Nam nhận thức vai trò quan trọng của quản lý giáo dục trong sự. phát triển của nền giáo dục đất nước, nhiều nhà nghiên cứu trong nước đã có những công trình đề cập đến quản lý và quản lý giáo dục như: “Phương pháp luận khoa học giáo dục” của tác giả Phạm Minh Hạc, 1981; * Giáo dục học — một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Hà Thế Ngữ, 2001; “Một số khái niệm quản lý giáo dục” của tác ia Dang Quéc Bao,1997; Thai Duy Tuyên với tác phẩm “Giáo dục học hiện đại”; Nguyễn Thị Mỹ Lộc với tác phẩm “Đại cương về quản lý".
Cùng với việc nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục, dạy học, quản lý giáo dục và quản lý HĐDH, gần đây một số đẻ tài luận văn thạc. sĩ chuyên ngành đã nghiên cứu thực tiễn quản lý giáo dục và quản lý HĐDH tại các cơ sở giáo dục như: Đề tài “Giải pháp quản lý của Hiệu trưởng nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học tại các trường THPT thành phó Đà nẵng trong giai đoạn hiện nay” của Đặng Thanh, năm 2005, Đề tài “ Các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT công lập tỉnh Quảng Trị” của Võ Văn Hiếu năm 2006, Đề tài “Biện pháp quản lý HĐDH của Hiệu trưởng các trường cao đẳng ngoài công lập khu vực miền trung Việt Nam” của Huỳnh Thị Liên năm 2008, Đề tài * Biện pháp quản lý HĐDH tại trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn TPHCM trong giai đoạn hiện nay” của Hà Văn Tú, năm 2010, Những luận văn trên đã đề cập đến thực trạng công tác quản lý HĐDH của Hiệu trưởng tại một số cơ sở GD & ĐT, và đề xuất những biện pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học của từng cơ sở giáo dục. Ở địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong nhiều năm qua, việc nghiên cứu biện pháp quản lý HĐDH các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói chung và các trường THPT ở các huyện miễn núi tỉnh Quảng Ngãi nói riêng là một lĩnh vực vẫn chưa được đề cập tới. Vì thế việc xác định cơ sở lý luận quản lý HĐDH, đánh giá thực trạng công tác quản lý dạy học ở trường THPT các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi, nhằm đề xuất các biện pháp quản lý HĐDH góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là vấn đẻ rất đáng.
quan tâm, nghiên cứu .CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐÈ TÀI 1. Khái niệm Quản lý là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động trong một tô chức, một cơ sở nhất định. Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn công việc quản lý, bởi vì mọi nhà quản lý ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có. thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định.
Nói đến hoạt động này, chúng ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của K.Mark: “Một người độc tấu vĩ cẩm thì tự điều khiển lầy mình, còn dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng ”. Ban vé van dé nay, ở nước ta cũng có nhiều tác giả đề cập đến theo những cách tiếp cận khác nhau: Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến” [22, tr24], Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc quan niệm: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [6, trl]. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thê quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực trong va ngo: tô chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nh: "{L7, trl5] Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Bản chất hoạt động quản lý gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xép, đổi mới hệ đưa hệ vào thế “phát triển”. Trong “quản” phải có “lý”, trong “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong với các nhân tố bên ngoài '* [I, trl4].
Các tác giả ở nước ngoài cũng có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý: Harold Koontz, Cyril O'Donnell, Heinz Weihrich cho rằng: “Quản lý là thiết kế một môi trường mà trong đó con người cùng làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các mục tiêu”[19, tr32]. Những khái niệm trên tuy có khác nhau về cách diễn đạt và cách tiếp cân, nhưng chúng đều có chung những dấu hiệu chủ yếu sau: ~ Hoạt động quản lý có tinh da dạng, tác dụng một cách tổng hợp, được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. ~ Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích. ~ Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân, là sự lựa chọn các khả năng tối ưu để thực hiện mục tiêu của tổ chức đã đề ra.
Từ đó, khái niệm quản lý có thể được hiểu như sau: “Quán lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, thông qua công cụ và phương pháp quản lý nhằm làm cho tổ chức đó vận hành hợp quy luật và đạt được mục tiêu đã đề ra ”. Công cụ quản lý _ | Khách thể Chủ thể Chức năng. quản lý quản lý quản lý ———, I Phuong phap quan ly Sơ đồ 1.1: Mô hình quá trình tác động của hoạt động quản lý 1. Các chức năng quản lý Có nhiều quan điểm của các tác giả khác nhau về phân chia các chức năng quản lý, tuy nhiên, hầu hết đều đề cập đến bón chức năng chủ yếu sau: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
Chức năng kế hoạch hoá Kế hoạch hoá là vấn đề cơ bản nhất trong các chức năng quản lý vì nó bắt một nhịp cầu từ trạng thái hiện tại của chúng ta tới chỗ mà chúng ta muốn có trong tương lai dự định. Nội dung chủ yếu của kế hoạch hoá là xác định và hình thành các mục. tiêu; xác định và đảm bảo các nguồn lực để đạt mục tiêu đã đề ra. Chức năng tổ chức Tổ chức là hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tô chức nhằm thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
Ni chức tốt, có hiệu quả thì người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực. Nội dung chủ yếu của chức năng tô chức là: xác định cấu trúc tổ chức; xây dựng và phát triển đội ngũ nhân sự; xác định cơ chế hoạt động và các môi quan hệ của tổ chức; tổ chức lao động một cách khoa học của người quản lý. Chức năng chỉ đạo Chỉ đạo là quá trình tác động và ảnh hưởng của chủ thể quản lý tới hành vi, thái độ của những người khác nhằm biến những yêu cầu chung của tổ chức. thành nhu cầu của mọi người, trên cơ sở đó mọi người tích cực, tự giác và mang hết khả năng để làm việc.
Nội dung chủ yếu của chức năng chỉ đạo là: thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ; thường xuyên đôn đốc, động viên và kích thích người lao động; giám sát và sửa chữa (hỗ trợ, giúp đỡ); thúc đẩy các hoạt động phát triển đạt tới mục tiêu của tổ chức. Chức năng kiểm tra Kiểm tra là quá trình mà chủ thể quản lý xem xét thực tiễn đẻ thực hiện các nhiệm vụ đánh giá thực trạng, khuyến khích những nhân tố tích cực, phát hiện những sai lệch và đưa ra những quyết định điều chỉnh nhằm giúp các đối tượng quản lý hoàn thành nhiệm vụ và góp phần đưa toàn bộ hệ thống được quản lý tới một trình độ cao hơn. Kiểm tra là chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý. Lê-Nin khẳng định: “Quản jý mà không có kiểm tra thì không phải là quan I".
Nội dung chủ yếu của chức năng kiểm tra là: Đánh giá (xác định chuẩn.