CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN 1. Cơ sở lý luận về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản 1. Khái niệm dự án đầu tư xây dựng 1. Dự án đầu tư Đầu tư là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thời gian xác định nhằm đạt được các kết quả hoặc một tập hợp các mục tiêu xác định trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định (Từ Quang Phương & Phạm Văn Hùng, 2012).
Nguồn lực đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả đạt được đó có thể là sự tăng thêm về giá trị tài sản tài chính, hoặc tăng thêm về năng lực sản xuất, năng lực phục vụ tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, trường học.), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, quản lý, khoa học kỹ thuật.) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội. Dự án đầu tư là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với một phương pháp riêng, nguồn nhân lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới (Từ Quang Phương, 2006). Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến nâng cao chất lượng của sản phẩm/dịch vụ nào đó trong một thời gian xác định (Đỗ Đình Đức và Bùi Mạnh Hùng, 2012).
Theo Luật Đầu tư số 61/2022/QH14 ngày 17/6/2020: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”. Như vậy, căn cứ theo Luật Đầu tư hiện hành, dự án đầu tư có thể được hiểu theo hai cách như sau: 5 Xét về mặt hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. Xét về mặt quản lý, thông qua dự án đầu tư nhà đầu tư có thể quản lý về việc sử dụng vốn, vật tư, trang thiết bị,… nhằm đem lại kết quả tốt về tài chính và kinh tế trong thời gian dài.
Một dự án đầu tư bao gồm các yếu tố cơ bản sau: (1) Mục tiêu của dự án: Mục tiêu của dự án được thể hiện ở hai mức: (i) mục tiêu phát triển và (ii) mục tiêu trước mắt. Mục tiêu phát triển là những lợi ích kinh tế xã hội do thực hiện dự án đem lại và mục tiêu trước mắt là các mục đích cụ thể cần đạt được của việc thực hiện dự án. (2) Các kết quả: Đó là những kết quả cụ thể, có định lượng được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án. Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện được các mục tiêu của dự án.
(3) Các hoạt động: Mỗi dự án đều có những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện để tạo ra các kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với một kế hoạch thực hiện và phân công trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án. (4) Các nguồn lực: Nguồn lực để thực hiện dự án chính là các yếu tố vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án. Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án.
Dự án đầu tư xây dựng cơ bản Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 quy định: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm/dịch vụ trong một thời gian nhất định. Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở”. Phân loại dự án đầu tư xây dựng: - Phân loại theo quy mô và tính chất của dự án đầu tư xây dựng: Căn cứ vào tính chất và quy mô, dự án đầu tư xây dựng công trình được phân thành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C. - Phân loại theo nguồn vốn đầu tư: + Dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước + Dự án sử dụng nguồn vốn nhà nước ngoài ngân sách + Dự án sử dụng vốn khác - Theo các bước lập dự án: + Dự án đầu tư xây dựng công trình chỉ cần yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng gồm: Công trình xây dựng sử dụng cho mục đích tôn giáo; Công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng (không bao gồm tiền sử dụng đất).
+ Dự án đầu tư xây dựng công trình cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật và lập dự án đầu tư xây dựng. - Quy trình của dự án đầu tư xây dựng được thể hiện qua các giai đoạn sau: Giai đoạn I: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Giai đoạn II: Giai đoạn thực hiện đầu tư. Giai đoạn III: Giai đoạn kết thúc đầu tư, đưa dự án vào khai thác sử dụng.
7 BÁO DỰ ÁN NGHIỆM THIẾT ĐẤU THI CÁO ĐẦU TƯ THU KẾ THẦU CÔNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG BÀN GIAO GIAI ĐOẠN I GIAI ĐOẠN II GIAI ĐOẠN III QUẢN LÝ DỰ ÁN Hình 1. Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ bản * Các đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng cơ bản: - Dự án đầu tư XD có tính đa mục tiêu. Mỗi dự án không chỉ nhằm đáp ứng mục tiêu xây dựng một công trình cụ thể mà dự án đó thực hiện nhằm đáp ứng mục tiêu cải thiện cơ sở hạ tầng, góp phần thu hút thêm đầu tư và từ đó thúc đẩy kinh tế xã hội của địa phương. - Dự án đầu tư XD có tính duy nhất và gắn liền với đất: Mỗi công trình do dự án đầu tư xây dựng thực hiện là một công trình duy nhất, được xây dựng trên nền đất tại địa điểm xây dựng, ví dụ: Công trình Tòa nhà quốc hội Việt Nam, công trình Nhà khách cựu chiến binh tỉnh Điện Biên.
- Dự án đầu tư XD có thời gian xây dựng dài, vốn đầu tư lớn. Mỗi dự án đầu tư xây dựng thường có thời gian xây dựng kéo dài hàng năm, có những dự án kéo dài cả chục năm với lượng vốn đầu tư lớn (theo phân chia dự án nhóm A, B, C và dự án quan trọng quốc gia) - Dự án đầu tư XD chịu sự ràng buộc về thời gian và chi phí nguồn lực. Mỗi dự án đầu tư có thời gian thực hiện được quy định trong quyết định phê duyệt dự án và trong báo cáo nghiên cứu khả thi. Chi phí nguồn lực gồm chi phí tài chính, nguồn nhân lực và trí lực để thực hiện công trình.
8 - Dự án đầu tư XD luôn tồn tại trong một môi trường không chắc chắn (tiềm ẩn nhiều rủi ro). Mỗi dự án đầu tư xây dựng luôn chứa đựng những rủi ro không chắc chắn về biến động chính trị, rủi ro giải phóng mặt bằng. Có nhiều dự án đã được phê duyệt nhưng do không đủ vốn đối ứng thực hiện dẫn tới trì trệ trong triển khai, thành dự án “treo”. * Các yêu cầu của dự án đầu tư xây dựng cơ bản: Thứ nhất, tính khoa học: Tính khoa học của dự án được thể hiện trên những khía cạnh chủ yếu sau: - Về số liệu thông tin.
Những dữ liệu, thông tin để xây dựng dự án phải đảm bảo trung thực, chính xác, tức là phải chứng minh được nguồn gốc và xuất xứ của những thông tin và những số liệu đã thu thập được (do các cơ quan có trách nhiệm cung cấp, nghiên cứu tìm hiểu thực tế. - Về phương pháp lý giải. Các nội dung của dự án không tồn tại độc lập, riêng rẽ mà chúng luôn nằm trong một thể thống nhất, đồng bộ. Vì vậy, quá trình phân tích, lý giải các nội dung đã nêu trong dự án phải đảm bảo logic và chặt chẽ.
Ví dụ, vấn đề mối quan hệ giữa các yếu tố thị trường, kỹ thuật và tài chính của dự án. Thứ hai, tính thực tiễn: Tính thực tiễn của dự án đầu tư thể hiện ở khả năng ứng dụng và triển khai trong thực tế. Các nội dung, khía cạnh phân tích của dự án đầu tư không thể chung chung mà dựa trên những căn cứ thực tế phải được xây dựng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể về mặt bằng, thị trường, vốn. Thứ ba, tính pháp lý: Dự án cần có cơ sở pháp lý vững chắc, tức là phù hợp với chính sách và luật pháp của Nhà nước.
Điều này đòi hỏi người soạn thảo dự án phải nghiên cứu kỹ chủ trương, chính sách của Nhà nước và các văn bản luật pháp có liên quan đến các hoạt động đầu tư đó. Thứ tư, tính thống nhất: Lập và thực hiện dự án đầu tư là cả một quá trình gian nan, phức tạp. Đó không phải là công việc độc lập của chủ đầu tư mà nó liên quan đến nhiều bên như cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, các nhà tài trợ. 9 * Đối với dự án đầu tư XD cơ bản, ngoài việc phải đảm bảo các yêu cầu của DAĐT nói chung còn phải bảo đảm các yêu cầu sau đây: - Phù hợp với quy hoạch phát triển KT-XH, quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch xây dựng.
- Có phương án thiết kế và phương án công nghệ phù hợp. - An toàn trong xây dựng, vận hành, khai thác, sử dụng công trình, an toàn phòng, chống cháy, nổ và bảo vệ môi trường. - Bảo đảm hiệu quả kinh tế xã hội của dự án. Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản 1.