Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ BẰNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về quản lý đầu tư xây dựng giao thông đường bộ bằng ngân sách nhà nước 1. Lý luận chung về đầu tư xây dựng giao thông đường bộ 1. Khái niệm đầu tư Đầu tư là sự bỏ tiền và tài sản khác trong hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai.
Theo Luật đầu tư năm 2014, Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư [9]. Theo khoản 15, điều 4 Luật đầu tư công: Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội [9] Đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước (đầu tư công) là hoạt động kinh tế của nhà nước với tư cách là người chủ sở hữu vốn để đưa các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước vào xây dựng cơ bản nhằm đạt lợi ích chung của nền kinh tế - xã hội. * Mục tiêu đầu tư - Đứng trên góc độ doanh nghiệp: Mục tiêu đầu tư là tối đa hóa lợi nhuận. - Đứng trên góc độ Nhà nước thì mục tiêu của đầu tư xây dựng cơ bản là: + Đảm bảo lợi ích công cộng dài hạn, mục tiêu văn hoá, xã hội dài hạn, ví dụ đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng công cộng thuộc lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao, nghệ thuật.
6 + Đảm bảo sự phát triển kỹ thuật, kinh tế trung dài hạn của đất nước, ví dụ đầu tư cho các công trình phục vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ có tính chất chiến lược, các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật và kinh tế quan trọng, các công trình công nghiệp trọng điểm có tác dụng đòn bẩy đối với nền kinh tế quốc dân. + Đảm bảo yêu cầu về quốc phòng và an ninh. + Đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia. + Đảm bảo vị thế của đất nước trên trường Quốc tế.
+ Đầu tư vào các lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn lớn độ rủi do cao mà các doanh nghiệp không có khả năng thực hiện được, mà các lĩnh vực này lại giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển chung của đất nước và rất cần thiết cho đời sống con người đặc biệt là những địa bàn vùng sâu vùng xa, vùng biên giới hải đảo. Trên góc độ quản lý Nhà nước thì đầu tư xây dựng cơ bản cần hướng đến hai mục tiêu chính là: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân (mục tiêu phát triển) và cải thiện việc phân phối thu nhập quốc dân (mục tiêu công bằng xã hội). Khái niệm, đặc điểm và vai trò của ĐTXD Giao thông đường bộ a. Khái niệm về ĐTXD giao thông đường bộ Đầu tư xây dựng giao thông đường bộ là hình thức cấp vốn cho việc khôi phục, nâng cấp hoặc xây dựng mới các công trình đường bộ gồm các loại công trình đường, cầu và hầm đường bộ nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải và giao lưu đi lại của nhân dân.
Như vậy, đầu tư xây dựng giao thông đường bộ là một hoạt động đầu tư xây dựng của nhà nước, của các đơn vị kinh tế hoặc của các địa phương vào các công trình hoặc hạng mục công trình thuộc lĩnh vực giao thông vận tải. 7 Đầu tư xây dựng giao thông đường bộ là loại hình đầu tư cơ bản với đặc thù là một ngành sản xuất độc lập và đặc biệt bao gồm các hình thức cụ thể như: làm mới, làm lại, mở rộng, khôi phục và sửa chữa lớn các công trình đường bộ. Làm mới là việc đầu tư xây dựng các tuyến đường, những chiếc cầu mà từ trước đến nay chưa chú trọng mạng lưới đường sá, cầu cống của đất nước. Đây là hoạt động manh tính chất tái sản xuất mở rộng tài sản cố định, nó góp phần làm tăng số lượng,giá trị tài sản cố định của nền kinh tế quốc dân.
Đối với công trình giao thông đường bộ đang có, nhưng do điều kiện kỹ thuật khai thác và nhiệm vụ vận chuyển thay đổi thì việc mở rộng cho phù hợp đòi hỏi cũng là một dạng tái sản xuất mở rộng tài sản quốc gia. Đối với các công trình giao thông đường bộ hiện có nhưng bị hư hại, muốn khai thác bình thường thì phải tiến hành khôi phục hoặc sửa chữa. Những hình thức này đều nhằm tái sản xuất giản đơn tài sản cố định. Đặc điểm về ĐTXD giao thông đường bộ - GTĐB là các công trình xây dựng nên nó có vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài và thường thông qua các hoạt động kinh tế khác để có thể thu hồi vốn.
Do đó vốn đầu tư chủ yếu để phát triển GTĐB ở Việt Nam là từ nguồn vốn NSNN. Thời kì đầu tư kéo dài: Thời kì đầu tư được tính từ khi khởi công thực hiện dự án cho đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động, nhiều công trình có thời gian kéo dài hàng chục năm. Sản phẩm được tạo nên là sản phẩm công cộng do Nhà nước là chủ sở hữu, mục đích của đầu tư phát triển GTĐB không phải chỉ vì lợi ích kinh tế do dự án mang lại, mà vì lợi ích chung của nền kinh tế. - Thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài: Thời gian này được tính từ khi công trình đi vào hoạt động cho đến khi hết hạn sử dụng và đào thải công trình.
- Các thành quả của hoạt động đầu tư thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được xây dựng. - Vì đầu tư xây dựng GTĐB đòi hỏi cần có vốn đầu tư lớn cùng với thời kì đầu tư kéo dài nên nó thường có độ rủi ro cao trong đó có nguyên nhân chủ quan là do công tác quy hoạch ở nước ta còn nhiều hạn chế nên nhiều công trình xây dựng không phát huy được hiệu quả cần thiết. 8 Bên cạnh những đặc điểm chung của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản thì đầu tư xây dựng GTĐB cũng có những đặc điểm riêng của nó: * Đầu tư xây dựng GTĐB mang tính hệ thống và đồng bộ: Tính hệ thống và đồng bộ là một đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư phát triển GTĐB. Tính hệ thống và đồng bộ được thế hiện ở chỗ mọi khâu trong quá trình đầu tư xây dựng GTĐB đều liên quan mật thiết với nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của hoạt động đầu tư: Bất kì sai lầm nào từ khâu kế hoạch hoá hệ thống GTĐB đến khâu lập dự án hay thẩm định các dự án đường bộ… cũng sẽ ảnh hưởng đến quá trình vận hành của toàn bộ hệ thống đường bộ và gây ra những thiệt hại lớn không chỉ về mặt kinh tế mà còn về mặt xã hội.
Tính hệ thống và đồng bộ không những chi phối đến các thiết kế, quy hoạch mà còn được thể hiện ở cả cách thức tổ chức quản lý theo ngành và theo vùng lãnh thổ. Chính đặc điểm này đã đòi hỏi khi lập kế hoạch, quy hoạch, chiến lược phát triển GTĐB không được xem xét tới lợi ích riêng lẻ của từng dự án mà phải xét trong mối quan hệ tổng thể của toàn bộ hệ thống để đảm bảo được tính đồng bộ và hệ thống của toàn bộ mạng lưới GTĐB tránh tình trạng có một vài dự án ảnh hưởng đến chất lượng của toàn bộ hệ thống. * Đầu tư xây dựng GTĐB mang tính định hướng: Đây là đặc điểm xuất phát từ chức năng và vai trò của hệ thống GTĐB. Chức năng chủ yếu của GTĐB là thoả mãn nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hoá của người dân cũng như của các doanh nghiệp, GTVT đường bộ được coi là huyết mạch của nền kinh tế đảm bảo giao thông giữa các vùng miền và mở đường cho các hoạt động kinh doanh phát triển hơn nữa hoạt động đầu tư phát triển GTĐB cũng cần phải có một lượng vốn lớn cũng như cần thực hiện trong khoảng thời gian dài, do đó, để đảm bảo đầu tư được hiệu quả và loại trừ được các rủi ro thì cần phải có những định hướng lâu dài.
GTĐB cần mang tính định hướng vì nó là ngành đi tiên phong thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. 9 * Đầu tư xây dựng GTĐB mang tính chất vùng và địa phương: Việc đầu tư xây dựng GTĐB phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như đặc điểm địa hình, phong tục tập quán của từng vùng từng địa phương, trình độ phát triển kinh tế của mỗi nơi và quan trọng nhất là chính sách phát triển của nhà nước…Do đó đầu tư xây dựng GTĐB mang tính vùng và địa phương nhằm đảm bảo cho mỗi vũng và địa phương phát huy được thế mạnh của mình và đóng góp lớn vào sự phát triển chung của cả nước. Vì vậy trong kế hoạch đầu tư phát triển GTĐB không chỉ chú ý đến mục tiêu phát triển chung của cả nước mà phải chú ý cả đến điều kiện, đặc điểm tự nhiên cũng như kinh tế xã hội của mỗi vùng lãnh thổ. * Đầu tư xây dựng GTĐB mang tính xã hội hoá cao và có nhiều đặc điểm giống với hàng hoá công cộng: Các công trình GTĐB là những hàng hoá công cộng vì mục đích sử dụng của nó là để phục vụ cả chức năng sản xuất và đời sống; Là tổng hoà mục đích của nhiều ngành, nhiều người, nhiều địa phương và của toàn xã hội.
Điều này cho thấy đầu tư xây dựng GTĐB cần phải giải quyết cả mục tiêu phát triển kinh tế và cả mục tiêu cộng đồng mang tính chất phúc lợi xã hội. Điều này là rất quan trọng, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam trong điều kiện NSNN còn hạn hẹp cùng với đó là thu nhập của người dân vẫn còn thấp nên không thế đáp ứng hết nhu cầu đầu tư phát triển GTĐB.