phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương như sau: Ch n 1: ơ sở lý luận quản lý đầu tư ây ựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước Ch n 2: Thực trạng công tác quản lý đầu tư ây ựng cơ ản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum Ch n 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư ây ựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum 13 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ ĐẦU TƢ DỰNG CƠ BẢN T NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. KHÁI QUÁT QUẢN LÝ ĐẦU TƢ DỰNG CƠ BẢN T NGUỒN VỐN NG N SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Một số khái niệm a. Đầu tư: - Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại, để tiến hành một hoạt động nào đó, nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai, lớn hơn các nguồn lực đã ỏ ra để đạt được kết quả đó.
Các nguồn lực có thể là: tiền, đất đai, đội ngũ lao động, trí tuệ, bí quyết công nghệ,… Như vậy, đầu tư là sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm thu về những lợi ích trong tương lai tuỳ theo mục đích của chủ thể đầu tư. Nếu chủ đầu tư là tư nhân hay oanh nghiệp thì mục đích đó là thu được số vốn lớn hơn số đã bỏ ra, thông qua lợi nhuận; còn nếu chủ thể là Nhà nước thì mục đích là thu được các hiệu quả kinh tế xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia. Đầu tư xây dựng cơ bản: Theo Nguyễn Văn Thập (2019): “Đầu tư CB là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tạo ra tài sản cố định thông qua các hình thức xây dựng mới hoặc khôi phục, sửa chữa các tài sản cố định”. Việc thực hiện các hoạt động hay các dự án đầu tư đưa đến kết quả là sự gia tăng về tài sản vật chất và tài sản vô hình.
ăn cứ vào điều này, có thể đưa ra khái niệm về đầu tư như sau: “Đầu tư “là hoạt động đầu tư nhằm tạo tài sản cố định” và “Đầu tư ao gồm các hoạt động chính như: ây lắp và mua sắm máy móc thiết bị. Hoạt động đầu tư này 14 đòi hỏi vốn lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư phát triển của đơn vị”. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản: “Vốn đầu tư ây ựng cơ ản, là toàn bộ vốn bỏ ra để chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng công trình, chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng, chi mua sắm và lắp đặt thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán (bao gồm cả tiền chuyển quyền sử dụng đất)”. Vốn ngân sách nhà nước: Điều 4, Khoản 44, Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 của Quốc hội khóa 13 quy định: “Vốn nhà nước bao gồm: (i) vốn ngân sách nhà nước; (ii) Vốn công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; (iii) Vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ; (iv) Vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; (v) Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; (vi) Vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; (vii) Vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của Nhà nước; (viii) Vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; (ix) giá trị quyền sử dụng đất” (Quốc hội (2013), Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013).
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung vào vốn NSNN. Trong các nguồn vốn đầu tư, nguồn vốn đầu tư từ NSNN luôn giữ vai trò quan trọng và đang ần có u hướng tăng về giá trị tuyệt đối nhưng giảm về tỷ trọng (Hải Bình, 2005, trích từ Nguyễn Thị Thanh, 2016). Dự án đầu tư XDCB: Các hoạt động đầu tư , đặc biệt là đầu tư từ nguồn vốn NSNN đều được thực hiện qua các dự án đầu tư. 15 Điều 3, Khoản 15, Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, của Quốc hội khóa 13 quy định: “Dự án đầu tư ây ựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí ác định.
Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư ây ựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư ây ựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư ây ựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư ây ựng”. Dự án đầu tư xây dựng phải đáp ứng các yêu cầu sau (Điều 51 Luật Xây dựng 2014): “(i) Phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch xây dựng, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất tại địa phương nơi có ự án đầu tư ây ựng; (ii) ó phương án công nghệ và phương án thiết kế phù hợp; (iii) Bảo đảm chất lượng, an toàn trong xây dựng, vận hành, khai thác, sử dụng công trình, phòng, chống cháy, nổ và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; (iv) Bảo đảm cấp đủ vốn đúng tiến độ của dự án, hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án; (v) Tuân thủ quy định khác của pháp luật liên quan”. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp ảnh hƣởng đến đầu tƣ y dựng cơ bản t nguồn vốn ng n sách nhà nƣớc Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội. Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có đó là: a.
Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. “Điều kiện thời tiết khí hậu với lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng v. trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và sử dụng 16 đất. o điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau giữa các v ng đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét ”.
Đặc điểm này của nông nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến công tác thiết kế, thi công cũng như khai thác các công trình giao thông, thủy lợi. Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được. “Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau. Trong công nghiệp, giao thông v.
đất đai là cơ sở làm nền móng, trên đó ây ựng các nhà máy, công ưởng, hệ thống đường giao thông v. để con người điều khiển các máy móc, các phương tiện vận tải hoạt động. Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được. Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con người không thể tăng thêm theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất ruộng đất là chưa có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản phẩm”.
Đặc điểm này của sản xuất nông nghiệp đòi hỏi công tác quy hoạch, kế hoạch XDCB trong nông nghiệp phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa quy hoạch với chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm kết hợp quản lý ngành với quản lý lãnh thổ, tiết kiệm quỹ đất dành cho sản xuất nông nghiệp. Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống - cây trồng và vật nuôi.6] Đặc điểm này của sản xuất nông nghiệp đòi hỏi đầu tư ây ựng cơ bản trong nông nghiệp phải chú ý đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng, cơ cấu mùa, vụ. Từ đó đáp ứng tốt nhu cầu phát triển ngành nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao.
“Đó là nét đặc th điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế xoắn xuýt với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp. Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xoá bỏ được, trong quá trình sản xuất chỉ tìm cách hạn chế nó. Mặt khác, do sự biến thiên về điều kiện thời tiết – khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó, ẫn đến những mùa vụ khác nhau. Như vậy, tính thời vụ có tác động rất quan trọng đối với nông dân”.
Đặc điểm này của sản xuất nông nghiệp đòi hỏi đầu tư ây ựng cơ bản trong nông nghiệp phải đảm bảo tình trạng giao thông, tưới tiêu luôn sẵn sàng để phục vụ tốt ngành nông nghiệp trong mọi giai đoạn, mọi thời điểm. Đặc điểm của đầu tƣ y dựng cơ bản t nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc. Thứ nhất, đầu t XDCB t ngu n vốn NSNN trong nông nghiệp có các đặ đ ểm chung của đầu t XDCB t ngu n vốn NSNN: (1) Đầu t XDCB sử dụng ngu n vốn t NSNN. - Đầu tư từ nguồn vốn NSNN là quá trình mà chủ thể đầu tư là Nhà nước bỏ vốn từ ngân sách (toàn bộ hoặc một phần giá trị đầu tư), để tiến hành các hoạt động xây dựng công trình nhằm tạo ra tài sản cố định, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, vì mục tiêu phát triển quốc gia.
- Vốn chi cho hoạt động đầu tư từ NSNN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi đầu tư của toàn xã hội, được cấp phát trực tiếp và không hoàn lại nên là nguồn vốn dễ bị thất thoát, lãng phí nhất, cần phải được quản lý chặt chẽ. Mặt khác, vốn chi cho hoạt động đầu tư từ NSNN được phân bổ theo dự toán chi hàng năm, là một trong những nguyên nhân 18 dẫn đến việc thi công xây dựng công trình kéo ài để chờ vốn, làm tăng tổng mức đầu tư, thất thoát, lãng phí vốn đầu tư. (2) Đầu t XDCB t ngu n vốn NSNN đòi hỏi vốn đầu t lớn và đ ợc tiến hành trong thời gian dài. Đầu tư đòi hỏi một số lượng vốn, lao động lớn.