Chương 1, Cơ sở lí luận và pháp lý về quản lý đào tạo sau đại học Chương 2, Thực trạng công tác quản lí đào tạo hệ thạc sĩ tại Khoa Sau đại hoc, Đại học Hà Nội. Chương 3, Một số biện pháp quản lí đào tạo hệ thạc sĩ tại Khoa Sau đại hoc, Đại học Hà Nội. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHÁP LÍ VỀ QUẢN LÍ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Quản lí nói chung có ý nghĩa rất quan trọng trong mỗi tổ chức.
Quản lí đào ta ̣o có ý nghi ̃ số ng còn đố i với mỗi nhà trường. Ở Việt Nam và trên thế giới đã có rấ t nhiề u cô ng triǹ h nghiên cứu ứng du ̣ng thực tiễn trong quản lí giáo dục. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996) trong "Đại cương về quản lí - Đề cương bài giảng cao học" đã đề câ ̣p đế n lich ̣ sử tư tưởng quản lí và chức n ăng quản lí. Soi ro ̣i lý thuyế t về quản lí và nghiên cứu sâu hơn về quản lí giáo du ̣c , tác giả Đặng Quốc Bảo – Nguyễn Thi ̣Mỹ Lô ̣c (2006) trong Bài giảng Quản lí Giáo dục và Quản lí Nhà trường dành cho học viên cao ho ̣c quả n lí giáo duc đã đề câ ̣p đế n khái niê ̣m quản lí giáo du ̣c , các chức năng quản lí giáo du ̣c và mô ̣t số vấ n đề quản lí giáo du ̣c trên cơ sở quản lí nhà trường.
Đề câ ̣p đế n hoa ̣t đô ̣ng đào ta ̣o sau đa ̣i ho ̣c , tác giả Trần Khá nh Đức (2010) trong cuố n “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI ” đã so sánh chương trình đào ta ̣o giáo viên ở Nhâ ̣t Bản và ở Viê ̣t Nam. Nế u như ta ̣i Nhâ ̣t Bản, viê ̣c xây dựng chương trình đươ ̣c “đô ̣c lâ ̣p, thiế t kế theo các khóa đào tạo của giáo viên” thì ở Việt Nam phải “dựa trên chương trình khung của Bô ̣ giáo du ̣c và Đào ta ̣o”. Từ đó cho thấ y , công tác quản lí đào ta ̣o ở Việt Nam nói chung đã làm mất đi tính độc , sáng tạo trong việc thiế t kế các khóa đào tạo. Mô ̣t số ho ̣c viên cao ho ̣c chuyên ngành quản lí giáo dục cũng chọn quản lí đào tạo là mảng nghiên cứu của mình.
Tác giả Lê Thị Thủy nghiên 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cứu “Mô ̣t số biê ̣n pháp quản lí hoa ̣t đô ̣ng đào ta ̣o hê ̣ cử nhân quản lí giáo du ̣c tại Khoa Sư phạm – Đa ̣i ho ̣c Quố c gia Hà Nô ̣i” ; Tác giả Nguyễn Văn Thành nghiên cứu “Biê ̣n pháp tăng cường quản lí hoa ̣t đô ̣ng đào ta ̣o ta ̣i Khoa Tâm lí – Giáo dục học , Trường Đa ̣i ho ̣c Hải Phòng” ; Tác gi ả Ngô Thị Lụa nghiên cứu “Các biê ̣n pháp quản lí hoạt động đào tạo của trường Trung học Nông – Lâm – Nghiê ̣p Yên Bái nhắ m đáp ứng yêu cầ u nguồ n nhân lực nông – lâm – nghiê ̣p của tỉnh trong giai đoạn hiê ̣n nay” ; Tác giả Vũ Văn Hi ệp nghiên cứu “Quản lí đào tạo tại trường Trung cấ p Kinh tế – Kỹ thuật Bắc Thăng Long”; Tác giả Nguyễn Minh Tú nghiên cứu “Một số biê ̣n pháp quản lí công tác đào tạo tại Trường dạy nghề Quảng Nam” ; Tác giả Phùng Thế Nghị nghiên cứu “Tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ đố i với các môn học thuộc khố i kiế n thức chung trong chương trình đào tạo sau đại học ở Đại học Quố c gia Hà Nội”;. Các tác giả đã nghiên cứu những lí luận cơ bản về quản lí, quản lí giáo dục và quản lí hoạt động đào tạo ; phân tić h và đánh giá sâu sắ c về thực tra ̣ng công tác quản lí đào ta ̣o ; và đã đề xuất một số biện pháp quản lí phù hợp với đơn vi ̣mình. Nhưng những biê ̣n pháp mà các tác giả đưa ra mang tính đặc thù, áp dụng cụ thể tại một đơn vị nhất định. Nghiên cứu đề xuấ t các biê ̣n pháp quản lí đào ta ̣o sau đa ̣i ho ̣c nói chung và quản lí đào tạo hệ thạc sĩ nói riêng, nhấ t là đố i với ngành đào tạo thạc sĩ về ngoại ngữ như Trường Đại học Hà Nội là một mảng đề tài ít được đề cập đến.
Vì vậy, viê ̣c nghiên cứu thực tra ̣ng công tác quản lí đào ta ̣o hê ̣ tha ̣c si ̃ và đề xuấ t những biê ̣n pháp quản lí nhằ m nâng cao hiê ̣u quả quản lí và chấ t lươ ̣ng đào ta ̣o là mô ̣t đòi hỏi cấ p thiế t. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghiên cứu đề tài này , tác giả mong muốn đề xuất được những biện pháp hữu hiệu góp phần nâng chất lượng đào tạo hệ thạc sĩ , củng cố uy tín và phát huy thương hiệu đào tạo ngoại ngữ trình độ sau đại học của Nhà trường. Cơ sở lí luận về quản lí và quản lí giáo dục 1. Khái niệm Con người hoạt động theo sự phân công của xã hội.
Trong quá trình chấp nhận sự phân công lao động này, cá nhân phải biết hợp tác lao động với những thành viên khác trong một tập thể. Một cá nhân nào đó chỉ biết chấp nhận sự phân công mà không biết hợp tác lao động thì lao động không có sự sáng tạo. Ngược lại, có tinh thành hợp tác lao động nhưng bản thân lại không có năng lực tối thiểu trong công tác thì năng suất lao động cũng không cao. Hoạt động “quản lí” bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động này.
Sự phân công hợp tác lao động nhắm đến hiệu quả cao hơn, năng suất cao hơn, năng suất lao động cao hơn này đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra., phải có người đứng đầu. Đây là hoạt động để người “thủ trưởng” phối hợp nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong tổ chức, trong cộng đồng đạt mục tiêu đã đề ra. Về vấn đề “quản lí”, Mác – Ăngghen viết: “Bất kỳ một lao động xã hội của một cộng đồng nào được tiến hành trên quy mô tương đối lớn cũng đều cần có sự quản lí, nó xác lập hài hòa các mối quan hệ giữa các công việc riêng rẽ và thực hiện những chức năng chung nhất, xuất phát từ sự vận động của toàn bộ cơ cấu sản xuất (khác với sự vận động của từng bộ phận độc lập của nền sản xuất ấy). Một nghệ sĩ chơi đàn chỉ phải điều khiển chính mình nhưng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” (Mác – Ăngghen toàn tập, tập 23, trang 342).
Như vậy, “quản lí” gắn liền với cuộc sống, với hoạt động của mỗi con người trong xã hội. Chính vì thế, nhận thức của con người về quán lí cũng rất phong phú, đa dạng và phức tạp. Ngày nay, thuật ngữ quản lí đã trở nên rất phổ biến và được sự quan tâm đặc biệt, khoa học quản lí được coi là chìa khóa vàng cho những thành công của cá nhân hay tổ chức. Tiếp cận trên phương diện hoạt động của một tổ chức, Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc viết: “Quản lí là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [5, tr.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lí là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí nhằm đạt mục tiêu chung” [1, tr. Xét theo chức năng quản lí, hoạt động quản lí còn được tác giả Phan Văn Kha định nghĩa: “Quản lí là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các hệ thống nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định” [23, tr. Như vậy, có thể hiểu “quản lí” là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Konlova OV cho rằng: “Quản lí là tính toán sử dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài chính) nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ với kết quả tối ưu về kinh tế - xã hội” [26, tr.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phát triển quan điểm của Konlova OV, tác giả Trần Kiểm viết: “Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, diều phố các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất và quản lí một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người – thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt mục đích dự kiến” [25, tr. Những định nghĩa trên cho thấy, “quản lí” bao giờ cũng gồm hai thành phần là chủ thể và khách thể. Chủ thể và khách thể quản lí có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ nhau: chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lí, còn khách thể thì nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần, có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thỏa mãn được mục đích của chủ thể quản lí. “Quản lí” bao giờ cũng là một hoạt động có mục đích của con người.
Xét quản lí với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa: Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí tới khách thể quản lí bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu đề ra của tổ chức. Dù được tiếp cận theo cách nào thì quản lí cũng có một số đặc trưng cơ bản sau: - Quản lí là thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình hoạt động xã hội.