Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP – GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Ở các nước trên thế giới, nghiên cứu về chất lượng hiệu quả công tác đào tạo nghề được nhiều tổ chức quốc tế, các trường đại học, các tổ chức phi chính phủ đặc biệt quan tâm. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là ở Liên Xô trước đây cũng sớm quan tâm đến vấn đề đào tạo nghề, với những đóng góp quan trọng của các nhà giáo dục học, tâm lý học như X.V Cuđrisep,…dưới góc độ giáo dục học nghề nghiệp, tâm lý lao động, tâm lý học kỹ sư, tâm lý học xã hội.
Tuy nhiên, theo nhận xét của T.V Cuđrisep, những nghiên cứu trong lĩnh vực dạy học và giáo dục nghề vào những năm 70 của thế kỷ XX còn mang tính từng mặt, một chiều nên chưa giải quyết được một cách triệt để vấn đề chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống và lao động. Quá trình hình thành nghề lúc đó được chia thành 4 giai đoạn tách rời nhau đó là: Giai đoạn nảy sinh dự định nghề và bước vào học các trường nghề; giai đoạn học sinh lĩnh hội có tính chất tái tạo những tri thức, kỹ năng nghề nghiệp; giai đoạn thích ứng nghề và cuối cùng là giai đoạn hiện thực hóa từng phần hoạt động nghề. Quan niệm trên của T.V Cuđrisep đã tạo ra những khó khăn rất lớn trong quá trình học và dạy nghề. Quá trình đào tạo nghề trở lên áp đặt và không thấy được mối quan hệ giữa các giai đoạn hình thành nghề.
9 Với công trình nghiên cứu “Lessons from the Korean experience on human capital formation” (Những bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc về hình thành vốn con người) Jie Tae Hong [21] đã trình bày những bài học về đầu tư phát triển nguồn nhân lực của Hàn Quốc từ thập niên 60 của thế kỷ trước đến những năm gần đây. Theo ông, Hàn Quốc đạt được mục tiêu phát triển đào tạo nghề là nhờ sự tổ chức và huy động sức mạnh của bộ ba: Nhà nước - Doanh nghiệp - Người lao động. Jie Tae Hong cũng đã đưa ra một số kiến nghị về chính sách phát triển đào tạo nghề như: chuyển dần hệ thống đào tạo nghề từ hướng cung sang hệ thống đào tạo theo thị trường, thu hút vốn vay và đầu tư nước ngoài để phát triển nguồn nhân lực, tăng cường hệ thống chính sách về đào tạo nghề để đạt được một chiến lược phát triển nguồn nhân lực thống nhất trong toàn quốc. Công trình nghiên cứu “The Thailand vocational education traning” (Đào tạo nghề của Thái Lan) của Sirirak Ratchusanti [24] đã đề cập nôi dung về chính sách, định hướng, giải pháp phát triển hệ thống đào tạo nghề, nâng cao năng lực chất lượng đào tạo, tăng cường sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp trong xây dựng chính sách về nguồn nhân lực dựa trên cơ sở thực tiễn về đào tạo nghề và nguồn nhân lực ở Thái Lan, tác giả đã đưa ra giải pháp phát triển hệ thống nhưng ít đề cập đến cơ sở lý luận cho các giải pháp.
Các nghiên cứu trên cho thấy: Nhiều nước trên thế giới đã quan tâm tới việc đào tạo nghề cho người lao động. Hầu hết các nước đều bố trí hệ thống giáo dục kỹ thuật và dạy nghề bên cạnh bậc học phổ thông và đào tạo cao đẳng, đại học. Ở một số nước tư bản, hệ thống đào tạo nghề đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong quá trình quản lý đào tạo nghề, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn. Những nghiên cứu ở trong nước Trong những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực nói chung, nhân lực qua đào tạo nghề nói riêng.
Trong đó đáng lưu ý những công trình sau: Tác giả Phạm Văn Kha [22] trong ấn phẩm “Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”(năm 2007) đã phân tích mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trong điều kiện Việt Nam hiện nay cả về mặt lý luận và thực tiễn với những giải pháp tăng cường sự phù hợp giữa đào tạo và sử dụng, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố quản lý đào tạo nghề, dạy nghề của cả hệ thống và của từng cơ sở. Năm 2004, hai tác giả Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến [16] đã xuất bản tác phẩm “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn”. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã đề cập đến nhu cầu đào tạo lao động kỹ thuật của Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam đến năm 2010. Đây là ấn phẩm có nhiều điểm bổ ích để tham khảo cho nghiên cứu về đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Hậu Giang nói riêng.
Những nội dung về đổi mới chương trình giảng dạy, tăng cường đầu tư thiết bị, công nghệ phù hợp với thiết bị, công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá, kiểm định chất lượng các cơ sở dạy nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật của nền kinh tế về cả số lượng và cơ cấu để đảm bảo hiệu quả đầu tư cho giáo dục và dạy nghề. Tác giả Vũ Ngọc Hải [19] trong bài viết “Cung - Cầu giáo dục” đã đề cập tới những thay đổi trong quan hệ cung - cầu và những bất cập trong đào tạo nhân lực với những biểu hiện như: sự không tương thích giữa đào tạo với 11 phát triển kinh tế - xã hội; ngành, nghề đào tạo chưa gắn với thị trường lao động; trình độ đào tạo không phù hợp với đòi hỏi của việc làm,… Từ đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo hài hòa mối quan hệ giữa đào tạo và thị trường lao động. Luận án tiến sỹ của Phan Chính Thức [31] với đề tài: “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa”(năm 2003) đã đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận của đào tạo nghề, đề xuất một số giải pháp phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội. Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác đào tạo nghề và chất lượng đào tạo nghề.
Trong những năm gần đây nhiều cơ chế, chính sách được ban hành giúp cho công tác đào tạo nghề luôn phát triển và đạt được những thành tựu nhất định. Điều này được cụ thể hóa trong Luật Giáo dục năm 2005, Luật dạy nghề năm 2006, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014; Quy chế của trung tâm dạy nghề năm 2007,… Mặt khác, nhiều nhà khoa học cũng đã có các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như: “Tuổi trẻ với nghề truyền thống Việt Nam của tác giả Nguyễn Viết Sự (2006) [28]; “Việc làm ở nông thôn, thực trạng và giải pháp” của Chu Tiến Quang (2001) [29]; “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam, lý luận và thực tiễn” của Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến (2004) [16]; “Giáo dục kỹ thuật- Nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực” của Trần Khánh Đức (2002) [18]; “Giáo dục nghề nghiệp- Những vấn đề và giải pháp” của Nguyễn Viết Sự (2005) [27]; “Thị trường lao động Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” của Phạm Quý Thọ (2003) [30]; “Sổ tay tư vấn hướng nghiệp và chọn nghề” của Trung tâm Lao động- Hướng nghiệp- Bộ Giáo dục và Đào tạo do Nguyễn Hùng chủ biên (2008) [20];…vv 12 Các công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy, ở Việt Nam, công tác đào tạo nghề cho người lao động có nhiều bước phát triển các ngành nghề đào tạo được đa dạng hóa. Hệ thống các trường dạy nghề phát triển không ngừng, cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình đào tạo được đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Tuy nhiên, số lượng nhân lực qua đào tạo còn thấp, chất lượng không cao.
Cơ cấu nguồn nhân lực qua đào tạo trong các lĩnh vực nhất là lĩnh vực nông nghiệp còn mất cân đối. Các ngành, nghề lao động chân tay cho người lao động nông thôn ít được quan tâm. Do đó, những vấn đề về quản lý hoạt động đào tạo nghề trong đó có quản lý hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần tiếp tục quan tâm nghiên cứu. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.
Hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Hoạt động Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, là sự tác động một cách tích cực giữa con người với hiện thực, thiết lập mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan, nhằm tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con người. Theo nhà tâm lý học A.Leonchiep [13]: hoạt động là một tổ hợp các quá trình con người tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích thỏa mãn một nhu cầu nhất định và chính kết quả của hoạt động là sự cụ thể hóa nhu cầu của chủ thể. Theo đó, hoạt động là quá trình tác động qua lại tích cực giữa con người với thế giới khách quan, qua đó mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan được thiết lập.
Trong mối quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau là quá trình đối tượng hoá và quá trình chủ thể hoá. Đào tạo nghề Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “đào tạo” là: “Dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp”, tác giả Nguyễn Minh Đường: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân để tạo điều kiện cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả”. Từ điển Bách Khoa Việt Nam cho rằng: đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo… một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người.