Mở đầu: Giới thiệu khái quát một số vấn đề chung của đề tài. Kết quả nghiên cứu: được bố trí thành 3 chương. Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động đào tạo của các khoa trong các trường Cao đẳng. Thực trạng công tác quản lý hoạt động đào tạo của Khoa Môi trường, trường CĐCN Bắc Hà.
Một số biện pháp cải tiến công tác quản lý hoạt động đào tạo Khoa Môi trường, trường CĐCN Bắc Hà. Kết luận và kiến nghị Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO CỦA CÁC KHOA TRONG CÁC TRƢỜNG CAO ĐẲNG 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt hiệu quả hơn, năng suất cao hơn trong lao động, đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý…, phải có người đứng đầu.
Đây là hoạt động giúp người thủ trưởng phối hợp nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra. Về hoạt động quản lý, C.Mác có ý tưởng rất sâu sắc “Một nghệ sỹ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”.Mác đã định nghĩa QL như là “lao động để điều khiển lao động”. Có thể nói, QL hay điều khiển lao động là điều kiện quan trọng nhất để làm cho xã hội loài người hình thành, vận hành và phát triển. Lao động xã hội và QL không thể tách rời nhau.
Lao động QL là một dạng đặc biệt của lao động, tham gia vào quá trình lao động trong xã hội để hoàn thành chức năng QL cần thiết cho quá trình đó. Lao động QL là loại lao động trí óc diễn ra theo qui trình: quyết định – tổ chức thực hiện quyết định – kiểm tra – điều chỉnh – tổng kết. Các tư tưởng quản lý sơ khai xuất phát từ các tư tưởng triết học cổ Hy Lạp và cổ Trung Hoa. Thời Trung Hoa cổ đại đã công nhận các chức năng quản lý đó là: Kế hoạch hóa, tổ chức, tác động, kiểm tra.
Các nhà hiền triết của Trung Hoa trước công nguyên đã có những đóng góp lớn về tư tưởng quản lý quan trọng về tư tưởng quản lý vĩ mô, quản lý toàn xã hội. Các nhà tư tưởng và chính trị lớn đó là Khổng Tử (551-478 Trc.CN), Mạnh Tử (372 – 289 Tr.CN), Thương Ưởng (390 – 338 Tr.CN) đã nêu lên tư tưởng quản lý “Đức trị, Lễ trị” lấy chữ tín làm đầu. Xã hội ngày càng phát triển, lực lượng sản xuất cũng biến đổi và phát triển theo đà phát triển của xã hội, giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa tư bản đã đòi hỏi bộ môn quản lý ra đời. Ở phương Tây, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Taylor (1856 – 1915) được suy tôn là “cha đẻ của khoa học quản lý”.
Henry Fayol (1841 – 1925) người Pháp, cũng là một trong những người đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển quản lý, ông là người đầu tiên đề ra năm chức năng quản lý: Dự đoán lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra. Trong xã hội hiện đại, giáo dục được ví như: “Chiếc chìa khóa vàng để mở cánh cửa đi vào tương lai”. Một xã hội hiện đại là xã hội áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ, trí tuệ để kinh tế phát triển, thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước. Tăng trưởng kinh tế cùng với những biến đổi xã hội đã làm cho mức sống con người được nâng cao.
Giáo dục đóng vai trò chủ yếu trong việc giữ gìn, phát triển và truyền bá văn minh của nhân loại. Giáo dục được coi là nhân tố tích cực tạo nên nguồn nhân lực, quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia và sự thành đạt cho mỗi cá nhân trong cuộc sống của mình. Vì thế phát triển giáo dục đã trở thành “quốc sách hàng đầu” của nhiều quốc gia. Phát triển giáo dục là phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực.
Ở Việt Nam, khoa học quản lý đã có những thành tựu đáng kể, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xã hội trong những điều kiện cụ thể tương ứng với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong quá trình xây dựng đất nước, Đảng ta luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, trong đó chú trọng việc xây dựng và phát triển các hoạt động đào tạo. Điều đó được thể hiện qua chủ trương, chính sách, hệ thống văn bản pháp luật. Bộ giáo dục và Đào tạo cũng đã xây dựng hệ thống văn bản làm cơ sở cho việc xây dựng các hoạt động đào tạo nói chung và ở các trường Đại học, Cao đẳng nói riêng.
Trong những năm qua đã có nhiều công trình nhiên cứu về lý luận cũng như đề ra được các giải pháp quản lý có hiệu quả trong việc phát triển giáo dục và đào tạo như PGS. Nguyễn Ngọc Quang “Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục” đã đề cập đến những khái niệm cơ bản của quản lý, quản lý giáo dục (QLGD), đối tượng của khoa học QLGD; GS.TSKH Vũ Ngọc Hải – PGS. Trần Khánh Đức với Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 “Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ XXI” đã trình bày những quan điểm, mục tiêu, giải pháp phát triển giáo dục và hệ thống giáo dục. Những năm gần đây đã có một số đề tài nghiên cứu về biện pháp QLGD nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục, một số tác giả luận văn thạc sĩ nghiên cứu cùng hướng với đề tài như: - Quản lý hoạt động đào tạo của trường tư thục ngoại ngữ Việt Anh tại TPHCM, Nguyễn Thị Cẩm, năm 2006.
- Thực trạng công tác quản lý đào tạo tại khoa ngoại ngữ trường Cao đẳng Sư phạm TPHCM và một số giải pháp”, Lê Văn Việt, năm 2002. - Quản lý đào tạo Đại học hệ vừa học vừa làm ở trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn TPHCM, Nguyễn Thị Bích Hà, năm 2007. - Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Đoàn tại trường Đoàn Lý Tự Trọng, TPHCM, Nguyễn Văn Đức, 2007. Trên tạp chí nghiên cứu giáo dục ngày càng xuất hiện nhiều bài viết về các vấn đề của giáo dục, như bài: “Các giải pháp quản lý phát triển đào tạo theo nhu cầu xã hội ở Bạc Liêu” của Trần Công Chánh đăng tải trên tạp chí khoa học giáo dục số 69,tháng 6/2011.
Hiện tại các cuộc hội thảo khoa học, hội nghị giáo dục, hoặc qua mạng Internet cũng đã đề cập đến nhiều vấn đề của việc quản lý các hoạt động đào tạo. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau, nên vấn đề quản lý hoạt động đào tạo tại các trường Cao đẳng tư thục còn bỏ ngỏ. Rất cần có được những giải pháp hợp lý và đồng bộ để nâng cao hiệu quả đào tạo cho loại hình giáo dục này. Vì vậy, luận văn này đi sâu nghiên cứu thực trạng việc quản lý hoạt động đào tạo của Khoa Môi trường, nơi cán bộ nghiên cứu làm việc, nhằm tìm ra một số biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả đào tạo ở Khoa Môi trường, trường CĐCN Bắc Hà tại tỉnh Bắc Ninh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Lý luận về quản lý hoạt động đào tạo của cấp Khoa trong các trƣờng CĐ 1. Quan điểm và sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác GD-ĐT ở các trường CĐ Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam có nhiều chủ trương, chính sách phát triển GD-ĐT. Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định GD - ĐT thực hiện sự đổi mới, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, thích ứng với động thái của kinh tế thị trường.
Công văn số 362 – CV/VPTW của văn phòng trung ương Đảng ngày 17/3/2012 về việc công bố các văn kiện đại hội Đảng lần thứ XI, trong đó có nội dung về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới toàn diện và phát triển nhanh GD - ĐT, cụ thể như sau: - Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn - Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ GV và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, ĐT, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp.
Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội. - Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp (PP) dạy và học ở tất cả các cấp, bậc học.
Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục. Phát triển nhanh và nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng khó khăn, vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; mở rộng các phương thức đào tạo từ xa và hệ thống các trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên. Thực hiện tốt bình đẳng về cơ hội học tập và các chính sách xã hội trong giáo dục.
Ngày 28 tháng 5 năm 2009 Bộ trưởng Bộ GD – ĐT đã ban hành điều lệ trường Cao đẳng kèm theo thông tư số 14/2009/TT-BGDĐT. Tại đây, Bộ GD – ĐT đã qui định rất chi tiết và cụ thể về quy chế tổ chức các hoạt động đào tạo của trường cao đẳng nói chung [2, tr.