Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ ở các trường mầm non. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non Thành Phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non Thành Phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN TÌNH CẢM VÀ KỸ NĂNG XÃ HỘI CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở TRƢỜNG MẦM NON 1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Một số nghiên cứu trên thế giới Một số tổng quan sơ lược về kiểm tra đánh giá trên thế giới. Ngay từ khi xuất hiện mô hình nhà trường, các hình thức đánh giá người học cũng ra đời. Tuy nhiên ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia có những hình thức đánh giá khác nhau nhưng đều đưa ra những quy định chuẩn, phù hợp với yêu cầu của giáo dục và của xã hội hiện tại.
Chẳng hạn: Thời kì phong kiến sử dụng thi, kiểm tra theo các quy định hà khắc để đánh giá kết quả của người học; Thời kì tiền công nghiệp thi, kiểm tra phải phù hợp với trình độ người học và coi đó là một cách thức dạy và học, có vai trò khuyến khích học sinh tích cực, tự giác học tập; Thời kì hậu công nghiệp đánh giá phát triển theo tiêu chí hướng vào mục đích, yêu cầu của chương trình giảng dạy [39]. Đầu thế kỷ XVI, nhà giáo dục vĩ đại J.A Comenxki (1592-1670) đã đưa ra mô hình nhà trường và được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng. Đó là nhà trường được phân theo cấp học, bậc học ở những lứa tuổi nhất định; các môn học trong nhà trường được quy định chặt chẽ có chương trình, có nội dung cụ thể thống nhất; thời gian đào tạo cũng được ấn định, đương nhiên cách đánh giá học sinh cũng được quy định rõ ràng [39]. Đến thế kỷ XVIII thì hệ đánh giá chất lượng đầu tiên được áp dụng phổ biến trong nhà trường.
Lúc đầu hệ đánh giá có 3 bậc chính: Tốt - Trung bình - Kém. Tuy nhiên để đánh giá được theo 5 bậc chất lượng học sinh thì phải kiểm tra như thế nào để đánh giá được chính xác, phù hợp với đối tượng học sinh nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học mới là vấn đề được các nhà giáo dục quan tâm [37]. Hiện nay, những nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới luôn ưu tiên quan tâm cho GDMN, trong đó đánh giá trẻ mầm non ở những nước đó được coi là mối quan tâm số một của toàn xã hội. 7 Ở Singapore, CTGDMN là chương trình khung.
Việc ban hành khung CTGDMN của Bộ Giáo dục là một thành tựu quan trọng của Singapore. Khung chương trình được thiết kế để giải thích quan điểm của chúng ta về điều gì sẽ tạo ra một nền GDMN có chất lượng dựa theo những đánh giá cụ thể với riêng từng trẻ. Chương trình chỉ ra cách học phù hợp với trẻ ở giai đoạn mẫu giáo, và cũng quan trọng không kém, chương trình chỉ ra việc dạy cần phải tiến hành như thế nào trong những năm đầu của trẻ để có. Việc dạy trẻ và đánh giá trẻ tiến hành song song hai chiều, đảm bảo sự phát triển toàn diện cho trẻ mầm non [37].
Ở Na Uy, chính phủ nước này đã dùng tổng ngân sách chi cho giáo dục để đầu tư cho GDMN. Các loại hình GDMN ở nước này phát triển đa dạng. Ở đó, khi một trường mầm non được mở ra phải có sự kiểm định chặt chẽ của nhà nước về CSVC, chất lượng GV…Về CTGDMN của Na Uy: Mỗi trẻ được xây dựng riêng một chương trình học tập, kết quả phát triển của trẻ được đánh giá sát sao, cụ thể theo các tiêu chí phù hợp với chương trình học tập. Việc đánh giá trẻ được kết hợp giữa giáo viên và phụ huynh [39].
Các nghiên cứu trong nước Các nhà khoa học trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống lý luận QLGD, giáo dục Đại học, quản lý nhà trường, quản lý chất lượng giáo dục; có nhiều công trình xây dựng cơ sở lý luận về hoạt động đánh giá và quản lý hoạt động đánh giá của người học. Trong cuốn “Quản lý giáo dục”, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã bàn đến sự khác biệt của quản lý giáo dục với quản lý kinh tế xã hội: “Trong giáo dục, rất khó đo lường, đánh giá việc đạt được các mục đích. Trong các trường học có khá nhiều nhân tố cản trở việc đánh giá trực tiếp thành tựu hay mức độ đạt được mục tiêu.Việc thiếu những căn cứ chấp nhận được trong việc đánh giá sẽ tạo nên những khó khăn nghiêm trọng trong quản lý ” [35]. Trong cuốn “Quản lý chất lượng trong giáo dục - đào tạo”, tác giả Nguyễn Đức Chính có nêu: “Nếu như kiểm soát chất lượng là hình thức quản lý chất lượng phù hợp với cơ chế tập trung; quản lý chất lượng tổng thể phản ánh trình độ phát triển cao của các trường học thì bảo đảm chất lượng phù hợp với cơ chế chuyển đổi trong quản lý giáo dục ở nước ta” [13].
8 Trong cuốn “Đo lường - đánh giá trong giáo dục”, tác giả Nguyễn Đức Chính cho rằng: “Đánh giá giáo dục vừa là một lĩnh vực nghiên cứu của khoa học quản lý giáo dục, vừa là một công cụ hữu hiệu của quản lý giáo dục nhằm phán đoán giá trị của sự nghiệp giáo dục để điều chỉnh, kiểm nghiệm trình độ phát triển của sự nghiệp giáo dục và cải tiến để giáo dục ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của cộng đồng xã hội” [14]. Trong tài liệu “Các kỹ thuật đánh giá trong lớp học” tác giả Nguyễn Thị Ngọc Bích và nhóm nghiên cứu đã khẳng định “Kiểm tra đánh giá trong giáo dục có giá trị không chỉ cho người dạy, người học mà còn cả nhà quản lý”. Đây cũng là khâu quan trọng tác động lớn đến quá trình nâng cao chất lượng đào tạo. Việc kiểm tra đánh giá khách quan, nghiêm túc, đúng cách, đúng hướng sẽ l à động lực mạnh mẽ khích lệ sự vươn lên trong ho c tâ p của người học , thúc đẩy sự tìm tòi sáng tạo không ngừng của người học.
Đối với chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay, mục tiêu đánh giá được phân chia thành ba lĩnh vực là kiến thức, kỹ năng và thái độ. Mỗi mục tiêu thuộc lĩnh vực lại được diễn tả cụ thể hơn bởi các chuẩn kiến thức, kỹ năng. Bên cạnh mục tiêu được phân chia như trên, cần hướng tới mục tiêu đánh giá theo cách tiếp cận năng lực”. Trong công trình nghiện cứu “Về việc chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo đến trường phổ thông” do phòng Tâm lý - Viện nghiên cứu trẻ em trước tuổi học tiến hành năm 1992-1993 đã sử dụng bộ test “Đến tuổi học” và một số trắc nghiệm thích hợp để đánh giá sự chuẩn bị của trẻ đã học mẫu giáo với việc đến trường phổ thông.
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Nga với đề tài nghiên cứu “Góp phần hoàn thiện bộ trắc nghiệm đo lường mức độ sẵn đi học của trẻ 6 tuổi vào lớp 1” đã xây dựng bộ trắc nghiệm dựa trên mục tiêu, nội dung, yêu cầu của mẫu giáo và giáo dục tiểu học, cụ thể là lớp 1. Bộ trắc nghiệm tỏ ra hiệu quả và có khả năng để đánh giá sẵn sàng đi học của trẻ đầu lớp 1 ở các thành phố, thị xã [9]. Trong 2 năm 1996-1997, Trung tâm nghiên cứu giáo dục mầm non thuộc viện khoa học giáo dục đã nghiên cứu đề tài “Xây dựng bộ công cụ đánh giá chất lượng chăm sóc-giáo dục trẻ ở trường mầm non trọng điểm (khối nhà trẻ)”. Bộ công cụ này đã được xây dựng một cách khoa học, hệ thống có sự kế thừa và phát triển những 9 nghiên cứu trước và đã được thử nghiệm ở các trường mầm non điểm của nội thành Hà Nội [45].
Có thể nói trong các nghiên cứu về GDMN đã có một số công trình nghiên cứu về chương trình GD, về các hoạt động giáo dục, về đánh giá sự phát triển của trẻ nói chung nhưng đến nay chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non với những đặc trưng về văn hóa, nhu cầu giáo dục, điều kiện địa phương. theo hiểu biết của người nghiên cứu. Những cơ sở khoa học trên là căn cứ khoa học để tác giả triển khai thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Khái niệm phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội 1. Khái niệm tình cảm Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm ổn định của con người đối với những sự vật, hiện tượng, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên quan tới nhu cầu cá nhân và động cơ. Tình cảm là sản phẩm cấp cao của sự phát triển các quá trình cảm xúc trong điều kiện xã hội. Có 7 cảm xúc cơ bản của con người: vui, buồn, tức giận, ngạc nhiên, sợ hãi, ghê tởm, thích thú.
Ngoài những cảm xúc cơ bản, con người cũng trải nghiệm những cảm xúc khác được biết tới như là những cảm xúc xã hội như: xấu hổ, bối rối, ganh tỵ, tự hào, thất vọng, hối tiếc,. Những cảm xúc này liên quan tới sự đánh giá hành vi của chính chúng ta tốt hay xấu; tích cực hay tiêu cực; liên quan tới khả năng nhìn nhận, nói về, nghĩ về bản thân mình trong mối quan hệ với người khác và ảnh hưởng tới cách mà chúng ta nghĩ về hoặc đánh giá bản thân mình [19]. * Kỹ năng xã hội Kỹ năng xã hội là một dạng hành động nhằm thực hiện các mối quan hệ của cá nhân với mọi người xung quanh trên cơ sở nắm vững phương thức thực hiện và sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm xã hội phù hợp với điều kiện hoàn cảnh. Các kỹ năng xã hội là một tập hợp các kỹ năng giúp chúng ta giao tiếp, tương tác, thích nghi, hoà nhập với xã hội, giúp chúng ta được những người khác chấp nhận và là một phần trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.