phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 03 chương, 07 tiết. 12 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẢNG VIÊN CỦA ĐẢNG BỘ XÃ, THỊ TRẤN 1. Đảng bộ xã, thị trấn – khái niệm, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, đặc điểm và vai trò 1. Khái niệm đảng bộ xã, thị trấn Xã, phường, thị trấn là đơn vị cuối cùng trong hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước.
Theo khoản 1 điều 110, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường. Như vậy, xã, thị trấn là cấp cuối cùng, là đơn vị nội thị, nội thành của huyện, thị xã. Điều 21, Điều lệ Đảng thông qua tại Đại hội XI quy định: Ở xã, phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức cơ sở đảng (trực thuộc cấp ủy cấp huyện). Ở cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức đảng (tổ chức cơ sở đảng hoặc chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở); cấp ủy cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định tổ chức đảng đó trực thuộc cấp ủy cấp trên nào cho phù hợp; nếu chưa đủ ba đảng viên chính thức thì cấp ủy cấp trên trực tiếp giới thiệu đảng viên sinh hoạt ở tổ chức cơ sở đảng thích hợp.
Tổ chức cơ sở đảng dưới ba mươi đảng viên, lập chi bộ cơ sở, có các tổ đảng trực thuộc. Tổ chức cơ sở đảng có từ ba mươi đảng viên trở lên, lập đảng bộ cơ cở, có các chi bộ trực thuộc đảng ủy [22, tr. 13 Những trường hợp sau đây cấp ủy cấp dưới phải báo cáo và được cấp ủy cấp trên trực tiếp đồng ý mới được thực hiện: lập đảng bộ cơ sở trong đơn vị cơ sở chưa đủ ba mươi đảng viên; lập chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở có hơn ba mươi đảng viên; lập đảng bộ bộ phận trực thuộc đảng ủy cơ sở. Theo quy định của Điều lệ Đảng, tổ chức cơ sở đảng gồm có chi bộ cơ sở và đảng bộ cơ sở.
Chi bộ cơ sở và chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở tuy cùng là chi bộ, nhưng chi bộ cơ sở khác chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở ở nhiệm vụ, quyền hạn và nhiệm kỳ của chi ủy. Như vậy, đảng bộ xã, thị trấn là loại hình tổ chức đảng được lập ở cấp cơ sở. Số lượng đảng viên và cơ cấu tổ chức được tổ chức theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam. Chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ xã, thị trấn Một là, cụ thể hóa Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ xã, thị trấn; Nghị quyết, Chương trình, Đề án, kế hoạch công tác của Đại hội và cấp ủy cấp trên thành các chương trình, đề án, kế hoạch của Đảng ủy để lãnh đạo, kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao.
Hai là, bàn và quyết định những định hướng, mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh của xã, thị trấn hàng năm. Quyết định một số vấn đề lớn, quan trọng về kinh tế xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh của xã, thị trấn liên quan đến đời sống của đại bộ phận nhân dân: Các chương trình giảm hộ nghèo; phát triển sản xuất kinh doanh, các đề án phục vụ lợi ích công cộng (thư viện, khu vui chơi. Các kế hoạch đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn; phương án củng cố, xây dựng lực lượng dân quân, lực lượng bảo vệ dân phố, dân phòng; việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội, chính sách người có công… Thông qua các chương trình hành động, kế hoạch, đề án cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, cấp ủy và chính quyền cấp trên 14 liên quan đến trách nhiệm quản lý, điều hành của Ủy ban nhân dân (UBND) xã, thị trấn. Cho ý kiến về những định hướng, chủ trương quan trọng trong chương trình hành động và những quyết định quan trọng về kinh tế xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh; những vấn đề liên quan đến thực hiện chế độ chính sách và đời sống của nhân dân; việc thành lập, quản lý, sử dụng các quỹ do nhân dân đóng góp, những vấn đề về tổ chức hành chính (như việc thành lập, giải thể các thôn, xóm, các tổ chức quần chúng.) trước khi UBND xã, thị trấn đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét quyết định.
Cho ý kiến về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh 3 tháng, 6 tháng, 1 năm; báo cáo công tác chỉ đạo điều hành của UBND xã, thị trấn; báo cáo kết quả công tác 6 tháng, 9 tháng, 1 năm của Ủy ban kiểm tra (UBKT), Ban Tuyên giáo Đảng ủy; Ủy ban MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội (CT-XH) ở xã, thị trấn. Cho ý kiến về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng, công tác xây dựng Đảng, MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội ở xã, thị trấn hàng tháng. Ba là, ban hành các Nghị quyết chuyên đề về sự lãnh đạo của Đảng ủy đối với hoạt động của UBND xã, thị trấn; đối với tổ chức và hoạt động của MTTQ, các đoàn thể CT-XH xã, thị trấn. Bốn là, thông qua kế hoạch thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức theo hướng dẫn và chỉ đạo của cấp trên.
Năm là, quyết định việc đánh giá, phân loại chi bộ và đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng và hướng dẫn của cấp ủy cấp trên. Sáu là, bầu ủy viên Ban Thường vụ, Bí thư, Phó bí thư, ủy viên UBKT và chủ nhiệm UBKT Đảng ủy. Bảy là, chuẩn bị và giới thiệu các chức danh chủ chốt của xã, thị trấn: Bí thư, Phó bí thư, Ủy viên thường vụ Đảng ủy; Chủ tịch, Phó chủ tịch 15 UBND và các thành viên của UBND xã, thị trấn; lãnh đạo việc tổ chức thực hiện sau khi được Ban Thường vụ Huyện ủy đồng ý. Tám là, hướng dẫn và chỉ đạo đại hội các chi bộ trực thuộc; bàn và quyết định việc thành lập, giải thể, tổ chức lại các chi bộ trực thuộc; cho ý kiến về kế hoạch Đại hội, báo cáo chính trị và đề án nhân sự của MTTQ và các đoàn thể CT-XH xã, thị trấn, việc thành lập, tổ chức lại các chi hội đoàn thể ở địa bàn dân cư.
Chín là, quyết định ban hành quy chế làm việc của Đảng ủy, UBKT Đảng ủy, Ban Tuyên giáo Đảng ủy; khen thưởng hoặc kỷ luật tổ chức Đảng và đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng. Mười là, chuẩn bị các nội dung và quyết định triệu tập Đại hội Đảng bộ xã, thị trấn. Cơ cấu tổ chức của đảng bộ xã, thị trấn Cơ cấu tổ chức của đảng bộ xã, thị trấn gồm: Đại hội đại biểu đảng bộ xã, thị trấn nhiệm kỳ 5 năm/lần đã bầu ra Ban chấp hành đảng bộ xã, thị trấn. Cơ quan lãnh đạo của đảng bộ xã, thị trấn giữa 2 kỳ đại hội: ban thường vụ đảng ủy (03-05 đồng chí), ban chấp hành đảng ủy (11-15 đồng chí).
Văn phòng đảng ủy, UBKT thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, tham mưu giúp cấp uỷ cơ sở. Các chi bộ trực thuộc đảng bộ xã, thị trấn. Đặc điểm của đảng bộ xã, thị trấn Một là, đảng bộ cấp xã, thị trấn thuộc một đảng bộ huyện là một bộ phận được tổ chức ở các xã, phường, thị trấn theo quy định của Điều lệ Đảng và Ban Chấp hành Trung ương, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của đảng ủy các huyện, là hạt nhân chính trị ở cơ sở; đề ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của địa phương và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả; chủ động và phối 16 hợp với các cơ quan, đơn vị và các tổ chức liên quan để xây dựng hệ thống chính trị ở đơn vị cơ sở vững mạnh, xã hội giàu đẹp, văn minh. Hai là, nhiệm vụ lãnh đạo của đảng bộ xã, thị trấn tiến hành trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
Điều 23 Điều lệ Đảng khóa IX đã quy định rõ các tổ chức cơ sở đảng nói chung, đảng ủy phường nói riêng có nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện nhiều mặt công tác, cụ thể là: Tổ chức cơ sở đảng có nhiệm vụ: 1. Chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đề ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả. Xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên. Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể CT - XH trong sạch, vững mạnh; chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng” [22] Từ những chức năng, nhiệm vụ cơ bản được thông qua tại Điều lệ Đảng, có thể thấy, nhiệm vụ lãnh đạo của đảng bộ xã, thị trấn tiến hành trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Các nhiệm vụ này đều có mối liên hệ chặt chẽ, mật thiết, ảnh hưởng tới nhau. Do vậy, trong hoạt động thực tiễn, đảng bộ xã, thị trấn không được xem nhẹ nhiệm vụ nào.
Ba là, hầu hết đội ngũ cán bộ ở các đảng bộ xã, thị trấn đều được rèn luyện, trưởng thành từ hoạt động thực tiễn.