Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Khái quát tình hình nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi công tác BDGV. Việc tạo mọi điều kiện để mọi giáo viên có cơ hội học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời, kịp thời bổ sung kiến thức, đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với sự phát triển KT-XH là phương châm hành động của các lớp QLGD.
Tại Liên Xô (cũ) các nhà nghiên cứu QLGD rất quan tâm đến việc nâng cao chất lượng dạy học thông qua các biện pháp quản lý có hiệu quả. Muốn nâng cao chất lượng dạy học đòi hỏi đội ngũ giáo viên (ĐNGV) phải có năng lực chuyên môn. Họ cho rằng kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác quản lý bồi dưỡng phát triển đội ngũ giáo viên. Ở Ấn Độ vào năm 1988, quyết định thành lập hàng loạt các trung tâm học tập trong cả nước nhằm tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người.
Việc BDGV được tiến hành ở các trung tâm này đã mang lại hiệu quả rất thiết thực. Đại đa số các trường sư phạm ở Úc, New Zeland, Canada,… đã thành lập các cơ sở chuyên BDGV để tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tham gia học tập nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Tại Pakistan, nhà nước xây dựng chương trình bồi dưỡng về sư phạm cho ĐNGV và quy định trong thời gian 3 tháng cần bồi dưỡng những nội 7 dung: Nghiệp vụ dạy học; cơ sở tâm lý giáo viên; phương pháp nghiên cứu, đánh giá và nhận xét học sinh… cho ĐNGV mới vào nghề chưa quá 3 năm. Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho giáo viên, cán bộ QLGD là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm.
Tùy theo thực tế của từng đơn vị, từng cá nhân mà cấp QLGD đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định, cụ thể là mỗi cơ sở giáo dục cử từ 3 đến 5 giáo viên được đào tạo lại một theo chuyên môn mới và tập trung nhiều và đổi mới PPDH. Tại Triều Tiên một trong những nước có chính sách thiết thực về bồi dưỡng và đào tạo lại cho giáo viên. Tất cả giáo viên đều phải tham gia học tập đầy đủ các nội dung về chương trình nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo quy định Nhà nước đã đưa ra “Chương trình bồi dưỡng giáo viên mới” để bồi dưỡnggiáo viên được thực hiện trong 10 năm và “Chương trình trao đổi” để giáo viên đi tập huấn ở nước ngoài. Ở Philippin, công tác nâng cao chất lượng giáo viên không tiến hành trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng thành từng khóa học trong thời gian học sinh nghỉ hè.
Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lý học và đánh giá giáo dục; Hè thứ hai gồm các môn về quan hệ con người, triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục; Hè thứ ba gồm nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu trong giáo dục và hè thứ tư gồm kiến thức nâng cao, kỹ năng nhận xét, lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy, viết sách giáo khoa, viết sách tham khảo. Tại Thái Lan, từ năm 1998 việc BDGV nói chung, GVTH nói riêng được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội. Ở Việt Nam Đảng và Nhà nước ta khẳng định nguồn lực con người là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Chỉ thị số 40 CT/TW ngày 15/6/2004 về “Xây dựng, nâng cao chất lượng nhà giáo và đội ngũ cán bộ QLGD”.
Đồng thời Chính phủ cũng ban hành Quyết định số 732/2016/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, đội ngũ CBQL cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện GD&ĐT giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến 2025” [14]. Vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng giáo viên được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra trong thư gửi cán bộ, thầy giáo, cô giáo, công nhân viên, học sinh, sinh viên nhân dịp đầu năm học mới ngày 16/10/1968 rằng: “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do đó ngành các cấp Đảng, chính quyền địa phương phải thật sự quan tâm đến sự nghiệp này. Phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, để sự nghiệp giáo dục của ta những bước phát triển mới”. Kể từ sau Cách mạng tháng Tám thành công và cuộc cải cách giáo dục năm 1950, 1956, 1979 và từ năm 1986, cả nước bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện để thực hiện mục tiêu CNH, HĐH.
Giáo dục cũng phải đổi mới, bắt đầu từ đây, việc đào tạo,BDGV dần được chuẩn hoá. Hai chu kỳ bồi dưỡng thường xuyên 1992 - 1996 và 1997 - 2000 và chương trình bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ III năm 2003 - 2007 đã rút ra những kinh nghiệm cho hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm đối với giáo viên phổ thông nói chung và GVTH nói riêng. Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế như hiện nay, Đảng và Nhà nước ta càng chú trọng xây dựng ĐNGV cũng như công tác BDGV đảm bảo chất lượng để phục vụ sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp cách mạng của 9 Đảng. Quyết định 732/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ và Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về “Xây dựng, nâng cao chất lượng nhà giáo và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục” đã tạo đà cho sự nghiệp đổi mới giáo dục.
Thực tiễn giáo dục cho thấy, giáo viên là một trong các nhân tố đặc biệt đảm bảo cho sự nghiệp đổi mới và phát triển giáo dục. Thủ tướng chính phủ đã có quyết định số 732/2016/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, đội ngũ CBQL cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện GD&ĐT giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến 2025” [14, tr. Đặc biệt, Luật Giáo dục năm 2019 [31] là văn bản pháp lý cao nhất, quy định sự hoạt động thống nhất, toàn diện trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, nhằm tăng cường hoạt động quản lý Nhà nước về giáo dục. Như vậy, nâng cao chất lượng giáo viên và đội ngũ CBQL giáo dục là nhiệm vụ hết sức thiết yếu nhưng không ít khó khăn đối với các cấp QLGD hiện nay từ Trung ương đến địa phương.
Thời gian qua, có một số đề tài luận văn thạc sĩ nghiên cứu liên quan đến công tác bồi dưỡng giáo viên nói chung, GVTH nói riêng. Tiêu biểu như: Lê Thị Phương Thảo với đề tài: Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam đáp ứng chuẩn nghề nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng (2013) [32], Hoàng Đoàn Thủy với đề tài: Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, Trường Đại học Quy Nhơn (2022) [33]. Qua tham khảo một số công trình nghiên cứu cho thấy, các tác giả đã xây dựng được một hệ thống lý luận về khái niệm, vai trò, vị trí của công tác QLGD. Tuy vậy, vẫn chưa thấy công trình nào chuyên sâu vào việc đề cập ý nghĩa, nội dung hình thức, phương pháp, các biện pháp quản lý công tác BDGV ở cấp tiểu học như thế nào.
Do đó, trên cơ sở kế thừa, tham khảo 10 những công trình nghiên cứu đã công bố, chúng tôi tập trung khảo sát, phân tích nhằm đưa ra các giải pháp khả thi trong việc quản lý công tác bồi dưỡng nâng cao chất lượng của đội ngũ GVTH để đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục của huyện Tuy Phước nói riêng và của tỉnh Bình Định nói chung. Các khái niệm chính của luận văn 1. Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý trường học a) Quản lý Có nhiều quan niệm khác nhau xung quanh thuật ngữ “quản lý”: Theo Đặng Quốc Bảo: “Công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và Lý. Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định, quá trình “Lý” gồm việc sửa sang sắp xếp, đổi mới đưa vào thế “phát triển” [1], [2].
Theo Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [26, tr. Còn theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [13, tr. Từ những quan niệm về khái niệm “quản lý”, theo chúng tôi: Quản lý là quá trình tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý do tổ chức đề ra. Quản lý được coi là tập hợp những tác động có mục đích đến những tập thể trong xã hội.
Quản lý nhằm bảo toàn hệ thống, làm cho hệ thống vận động tới những trạng thái mới, thích ứng với hoàn cảnh mới của môi trường, tuân theo quy luật xã hội, thực hiện chức năng đặc thù. 11 b) Quản lý giáo dục Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp với các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [2, tr. Còn theo Hồ Văn Liên: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất” [28, tr. Từ nhận thức trên, chúng tôi cho rằng: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống giáo dục được quản lý, vận hành, thực hiện đúng mục tiêu giáo dục đề ra.