Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động cho vay khách hành doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại cổ phần 1. Khái quát về hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại cổ phần 1. Một số khái niệm liên quan đến hoạt động cho vay khách hàng DN tại các ngân hàng thương mại cổ phần - Khái niệm doanh nghiệp: Theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ra ngày 26/11/2014: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.[14] - Khái niệm về hoạt động cho vay: Theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức cho vay đối với khách hàng và Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ban hành ngày 03/02/2005 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức cho vay đối với khách hàng ban hành theo quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì: Cho vay là hình thức cấp cho vay, theo đó tổ chức cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.[16] Thời hạn nhất định ở đây chính là thời hạn cho vay.
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng nhận vốn vay cho đến khi trả hết cả gốc và lãi đã được thỏa thuận trong hợp đồng cho vay giữa tổ chức cho vay và khách hàng. download by : skknchat@gmail. Đặc điểm hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp a. Đặc điểm của một hoạt động cho vay nói chung * Tính pháp lý của nghiệp vụ cho vay: Cho vay của ngân hàng là một khái niệm kinh tế hơn là pháp lý.
Các hành vi cho vay của ngân hàng có cùng một logíc kinh tế, hứng chịu rủi ro cho một người mà ngân hàng tin tưởng ứng vốn cho vay, nhưng nó không chỉ gồm một giao dịch pháp lý mà nhiều loại (cho vay, bảo lãnh , cầm cố…). Luật ngân hàng các nước định nghĩa tín dụng như sau: “Cấu thành một nghiệp vụ tín dụng bất cứ tác động nào, qua đó một người đưa hoặc hứa đưa vốn cho một người khác dùng, hoặc cam kết bằng chữ ký cho người này nhưng đảm bảo, bảo trứng hay bảo lãnh mà có thu tiền”. Định nghĩa này nêu ra 3 trường hợp xét về tính chất pháp lý, các nghiệp vụ cho vay ngân hàng về cơ bản là: - Cho vay ứng trước (cho vay trực tiếp). - Cho vay dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền.
- Cho vay qua chữ ký (cho vay qua việc cam kết bằng chữ ký). * Các khoản vay đều phải theo một quy trình cho vay, thu nợ nhất định. Thông thường gồm 5 bước: Bước 1: Lập hồ sơ đề nghị vay. Bước 2: Phân tích tín dụng.
Bước 3: Quyết định cấp tín dụng cho vay. Bước 4: Giải ngân. Bước 5: Giám sát thu nợ và thanh lý hợp đồng cho vay. * Lãi suất trong hợp đồng cho vay theo thoả thuận giữa khách hàng và ngân hàng cho vay.
* Các khoản cho vay có hoặc không có tài sản đảm bảo tuỳ vào việc đánh giá và xếp hạng khách hàng của ngân hàng cho vay. download by : skknchat@gmail.com 7 * Khi kết thúc hợp đồng khách hàng có nghĩa vụ trả ngốc và lãi hoặc một số thoả thuận khác nếu được ngân hàng cho vay chấp nhận. Trường hợp khách hàng không thực hiện hợp đồng hay không có một điều khoản nào khác thì tài sản đảm bảo thuộc quyền quyết định của ngân hàng cho vay. Đặc điểm hoạt động cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại đóng một vai trò vô cùng quan trọng, là trung gian tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, bằng những hoạt động của mình để điều tiết và định hướng các hoạt động đầu tư, trong đó hoạt động tín dụng là một công cụ dùng để hướng các nguồn vốn từ nhiều nguồn khác nhau vào các hoạt động kinh tế hiệu quả.
Hoạt động tín dụng có thể được hiểu như sau: Hoạt động tín dụng là hoạt động giao dịch về tài sản giữa bên cho vay - NHTM hoặc các định chế tài chính khác và bên đi vay - các thành phần kinh tế, dân cư, trong đó bên đi vay được quyền sử dụng trước tài sản của bên cho vay trong một thời kỳ nhất định theo các điều kiện đảm bảo thoả thuận giữa hai bên và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả tiền gốc và lãi đầy đủ và đúng hạn. Trong điều kiện mà số lượng các doanh nghiệp đang ngày càng đông đảo như hiện nay thì đối với hầu hết các NHTM đây chính là đối tượng chủ đạo. Để có thể nghiên cứu và phục vụ một cách hiệu quả hơn, các ngân hàng thường thành lập riêng một phòng chuyên trách về đối tượng khách hàng này, từ đó có thể triển khai một số giải pháp để mở rộng đối tượng khách hàng doanh nghiệp, trong đó chú trọng nhiều trong vấn đề hoàn thiện các sản phẩm, đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách nhóm khách hàng doanh nghiệp. Có rất nhiều giải pháp được các ngân hàng thương mại đưa ra nhằm tăng cường sự tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp như chia nhỏ nguồn vốn, chốt hạn mức tín dụng ở một ngưỡng nhất định đối với mỗi khoản vay để đáp ứng được nhiều nhu cầu vay vốn hơn nữa.
Có thể nói tiềm năng của khối doanh nghiệp này đang là hướng đầu tư trọng điểm của các ngân hàng thương mại, thể hiện ở sự download by : skknchat@gmail.com 8 chuyển động tích cực của tốc độ tăng trưởng tín dụng cũng như quy mô của các quỹ cho vay trong thời gian qua. Các hình thức cho vay doanh nghiệp a. Căn cứ vào thời hạn tín dụng Cho vay ngắn hạn là cho vay có thời hạn dưới 12 tháng và được sử dụng với mục đích bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Do đặc tính quy mô, lượng vốn nhỏ, năng lực tài chính và năng lực quản lý còn nhiều hạn chế nên các doanh nghiệp thường nhận được khoản vay ngắn hạn từ phía các ngân hàng thương mại.
Cho vay trung hạn là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm, chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm các loại phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, hoặc đổi mới thiết bị công nghệ với thời gian thu hồi vốn nhanh. Cho vay dài hạn là hình thức cho vay có thời hạn dài trên 5 năm, thời hạn tối đa của tín dụng dài hạn có thể lên đến 40 năm tùy thuộc vào mỗi khoản vay. Loại tín dụng này nhằm phục vụ các công trình xây dựng lớn như nhà cửa, máy móc, sân bay, cầu, đường, có giá trị lớn. Căn cứ vào nghiệp vụ của ngân hàng Cho vay thấu chi: Cho phép người vay được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định ( hạn mức thấu chi ) và trong một khoảng thời gian xác định.
Có thể nói đây là một hình thức cho vay khá linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là không có đảm bảo. Nhìn chung, hình thức này chỉ áp dụng đối với những khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn. Cho vay trực tiếp từng lần: hình thức cho vay có sư can thiệp của ngân hàng, ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kì sản xuất kinh doanh. Hình thức cho vay này thường áp dụng chủ yếu đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không đủ điều kiện để cấp hạn mức thấu chi.
Một số khách hàng thường sử dụng vốn chủ sở hữu hoặc download by : skknchat@gmail.com 9 tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ đến thời vụ đặc biệt hoặc mở rộng sản xuất thì mới phải đi vay ngân hàng, tức là vốn ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh. Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản, ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách biệt, tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản đảm bảo. Cho vay luân chuyển: Dựa trên sự luân chuyển của hàng hóa, ngân hàng cho khách hàng vay để mua hàng và đến khi doanh nghiệp bán được hàng thì sẽ thu nợ. Với hình thức này,ngân hàng và khách hàng thỏa thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng , các nguồn cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ.
Cho vay theo hạn mức: Nghiệp vụ tín dụng mà theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng nhất định, có thẻ cấp cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Trong kì khách hàng có thể vay - trả nhiều lần nhưng dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng mà ngân hàng cho phép. Khách hàng cần trình bày phương án kinh doanh, chiến lược sử dụng vốn, các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và yêu cầu vay, nếu thấy khả thi và hợp lệ, ngân hàng sẽ phát tiền cho khách hàng. Cho vay trả góp: Khách hàng được phép trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận với nhân hàng.
Loại tín dụng này thường áp dụng với các khoản vay trung và dài hạn, dùng để đầu tư cho tài sản cố định và một số hàng hoá có giá trị lâu bền khác. Số tiền mỗi lần trả sẽ được ngân hàng tính toán sao cho phù hợp với khả năng thanh toán tại thời điểm đó của ngân hàng. Loại cho vay này thường có rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hoá mua trả góp, thu nhập của người vay ảnh hưởng lớn đến khả năng trả nợ của họ. Chính vì rủi ro cao như vậy nên trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng thì cho vay trả góp luôn có mức lãi suất cao nhất Cho vay khác: Ngoài các phương thức đã kể trên, ngân hàng cũng có nhiều hình thức cho vay khác mà vẫn nằm trong khuôn khổ pháp luật, phù download by : skknchat@gmail.