phần Mở đầu và phần Kết luận, Nội dung chủ yếu của luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý chất thải trong phát triển du lịch. Chƣơng 2: Chất thải trong phát triển du lịch ở Vịnh Hạ Long. Chƣơng 3: Một số giải pháp tăng cƣờng quản lý chất thải trong phát triển du lịch ở Vịnh Hạ Long. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ CHẤT THẢI TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1.
Chất thải và chất thải du lịch 1. Chất thải Chất thải là những vật chất mà ngƣời dùng không còn muốn sử dụng và thải ra, tuy nhiên trong một số trƣờng hợp chất thải có thể là không có ý nghĩa với đối tƣợng này nhƣng lại là lợi ích của đối tƣợng khác, chất thải còn đƣợc gọi là rác. Chất thải gồm có nhiều loại: rác thải là chất thải rắn phát sinh trong sản xuất và sinh hoạt; phế liệu đƣợc phát sinh sau khi sử dụng nguyên liệu trong quá trình sản xuất; nƣớc thải đƣợc phát sinh sau quá trình sử dụng nƣớc. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ: “Chất thải là rác và những đồ vật bị bỏ đi nói chung”.
Định nghĩa này xác định rõ chất thải sản sinh ra trong sinh hoạt nhƣng chƣa khái quát đƣợc tất cả các loại chất thải sản sinh ra trong những hoạt động khác nhau của con ngƣời. Định nghĩa này không đƣa ra đối tƣợng quyết định về giá trị, tác dụng của đồ vật đó và quyết định chiếm hữu, sử dụng nữa hay không. Do đó, không đánh giá chính xác đƣợc một vật chất có phải là chất thải hay không. Theo Từ điển Môi trƣờng Anh - Việt và Việt - Anh: “Chất thải là bất kỳ chất gì, rắn, lỏng hoặc khí mà cơ thể hoặc hệ thống sinh ra nó không còn sử dụng đƣợc nữa và cần có biện pháp thải bỏ”.
Theo định nghĩa này, chất thải có 03 dạng là rắn, lỏng và khí; chất thải là vật chất không còn sử dụng đƣợc; chất thải cần có biện pháp thải bỏ. Theo Khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trƣờng 2014: “Chất thải là vật chất đƣợc thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Theo định nghĩa này, cụm từ “đƣợc thải ra” có thể hiểu là chủ sở hữu không muốn sử dụng vật chất đó, hoặc do nhu cầu của mình, chủ sở hữu phải thải bỏ vật chất đó nhƣng không phụ thuộc vào ý chí của họ. Tuy nhiên, khi chủ sở hữu từ bỏ ý định khai thác giá trị, công dụng của vật chất nhƣng ngay sau đó nảy sinh nhu cầu sử dụng vật chất 7 đó với mục đích khác hoặc cũng với mục đích trƣớc đó thì vật chất không đƣợc coi là chất thải.
Các hoạt động tạo ra chất thải nhƣ: hoạt động sản xuất, dịch vụ, sinh hoạt, nghiên cứu khoa học, y tế…Nhìn chung, trong cuộc sống, bất cứ hoạt động nào cũng tạo ra chất thải. Ngoài các dạng tồn tại là: rắn, lỏng, khí thì chất thải còn có thể tồn tại dƣới các dạng khác nhƣ: nhiệt lƣợng, tiếng ồn, bức xạ ion hóa. Việc phân loại chất thải nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác quản lý, phân loại, tái chế chất thải. Vì vậy, nâng cao ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh môi trƣờng, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, giảm lƣợng rác thải, giảm sức ép lên tài nguyên môi trƣờng vì một thế giới phát triển bền vững hơn đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Chất thải du lịch Chất thải du lịch là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí đƣợc thải ra từ hoạt động du lịch. Chất thải của hoạt động du lịch có thể đƣợc sản sinh ra do khách du lịch, nhƣng cũng có thể đƣợc sản sinh ra do các hoạt động phục vụ du lịch khác. Chất thải du lịch có thể xuất phát từ: Các nhà hàng, khách sạn: việc kiểm soát chất thải từ các nhà hàng, khách sạn góp phần bảo vệ môi trƣờng và quản lý hoạt động kinh doanh tốt hơn, đem lại lợi nhuận cao hơn cho các đơn vị kinh doanh này. Các dịch vụ đô thị du lịch nhƣ: các cơ sở chăm sóc sức khoẻ, sắc đẹp, dịch vụ y tế, văn hoá thể thao… Từ các khu dân cƣ trong các khu vực phát triển du lịch.
Ví dụ nhƣ chất thải trong các khu dân cƣ đang sinh sống và làm du lịch trực tiếp, hay góp phần vào việc xây dựng hình ảnh du lịch tại phố cổ Hội An. Các khu trung tâm thƣơng mại, chợ, siêu thị. Các hoạt động vận chuyển khách du lịch: sân bay, bến cảng, bến ô tô, ga tàu hoả. Các công sở, trƣờng học, công trình công cộng trong các khu du lịch.
Các hoạt động xây dựng hạ tầng phục vụ du lịch. Các trạm xử lý nƣớc cấp, nƣớc thải và các hệ thống thoát nƣớc trong các nhà hàng, khách sạn, đƣờng phố. 8 Trong các nguồn chất thải du lịch nêu trên, chiếm khối lƣợng lớn là chất thải từ các nhà hàng, các cơ sở lƣu trú, khách du lịch và dịch vụ du lịch. Lƣợng chất thải cũng phụ thuộc vào quy mô của các khu, điểm du lịch.
Thông thƣờng, các khu du lịch càng lớn, lƣợng khách càng đông thì lƣợng chất thải du lịch sẽ càng lớn. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc các khu du lịch nhỏ, lƣợng chất thải du lịch ít thì không gây ô nhiễm môi trƣờng. Mức độ ô nhiễm môi trƣờng do chất thải du lịch phụ thuộc vào khối lƣợng chất thải, phƣơng thức quản lý chất thải, hình thức xử lý chất thải. Nhƣ vậy, có thể thấy, vai trò quan trọng của công tác quản lý chất thải đối với sự phát triển du lịch của một khu vực.
Các nguyên tắc trong quản lý chất thải du lịch Quản lý chất thải là việc thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế, loại bỏ hay thẩm tra các vật liệu chất thải. Quản lý chất thải liên quan đến những vật chất do hoạt động của con ngƣời sản xuất ra, đồng thời đóng vai trò giảm bớt ảnh hƣởng của chúng đến sức khỏe con ngƣời, môi trƣờng hay tính mỹ quan. Quản lý chất thải góp phần phục hồi các nguồn tài nguyên lẫn trong chất thải. Quản lý chất thải có thể bao gồm chất rắn, chất lỏng, chất khí hoặc chất thải phóng xạ, mỗi loại đƣợc quản lý bằng những phƣơng pháp và lĩnh vực chuyên môn khác nhau.
Ngày 24/4/2015 Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2015/NĐ- CP về quản lý chất thải và phế liệu. Theo đó, quản lý chất thải và phế liệu theo 8 nguyên tắc chung nhƣ sau: - Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tăng cƣờng áp dụng các biện pháp về tiết kiệm tài nguyên và năng lƣợng; sử dụng tài nguyên, năng lƣợng tái tạo và sản phẩm, nguyên liệu, năng lƣợng sạch thân thiện với môi trƣờng; sản xuất sạch hơn; kiểm toán môi trƣờng đối với chất thải và các biện pháp khác để phòng ngừa, giảm thiểu phát sinh chất thải. - Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phân loại chất thải tại nguồn nhằm mục đích tăng cƣờng tái sử dụng, tái chế, đồng xử lý, xử lý và thu hồi năng lƣợng. - Việc đầu tƣ xây dựng cơ sở xử lý chất thải phải tuân thủ theo quy định pháp luật về xây dựng và pháp luật bảo vệ môi trƣờng có liên quan.
9 - Nƣớc thải phải đƣợc thu gom, xử lý, tái sử dụng hoặc chuyển giao cho đơn vị có chức năng phù hợp để tái sử dụng hoặc xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trƣờng trƣớc khi thải ra môi trƣờng. - Khí thải phải đƣợc xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trƣờng tại cơ sở phát sinh trƣớc khi thải ra môi trƣờng. - Nhà nƣớc khuyến khích việc xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, xử lý chất thải và thu hồi năng lƣợng từ chất thải. - Tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải có trách nhiệm nộp phí, giá dịch vụ cho các hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải theo đúng quy định của pháp luật.
- Khuyến khích áp dụng các công nghệ xử lý chất thải thân thiện với môi trƣờng. Việc sử dụng chế phẩm sinh học trong xử lý chất thải phải tuân theo quy định của pháp luật. Quản lý chất thải du lịch cũng áp dụng theo những nguyên tắc của quản lý chất thải nói chung, các nguyên tắc đƣợc cụ thể hoá nhƣ sau: 1. Nguyên tắc phòng ngừa Phòng ngừa là nguyên tắc chủ yếu của bảo vệ môi trƣờng nói chung và bảo vệ môi trƣờng du lịch nói riêng bởi vì tự nhiên là một thể thống nhất bao gồm nhiều thành phần khác nhau, mỗi một thành phần thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của các thành phần khác.
Nếu một thành phần bị ô nhiễm sẽ làm ảnh hƣởng tới tất cả các thành phần khác, chi phí để phục hồi môi trƣờng sẽ rất tốn kém và khó khăn, mất nhiều thời gian. Trong một số trƣờng hợp thì môi trƣờng không thể phục hồi nguyên trạng. Do đó, phòng ngừa để chủ động ngăn chặn nhằm loại bỏ những nguyên nhân có thể gây ra những rủi ro gây nguy hại đối với môi trƣờng trƣớc khi chúng xảy ra sẽ là lựa chọn hữu hiệu hơn cả. Trong phát triển du lịch, nếu môi trƣờng cảnh quan bị ô nhiễm thì thời gian lƣu trú của khách du lịch sẽ ngắn, lƣợng khách quay lại trong những lần sau sẽ rất ít.
Nếu có đầu tƣ kinh phí vào việc phục hồi môi trƣờng thì cũng phải mất rất nhiều thời gian mới có thể lấy lại uy tín cho khu, điểm du lịch đó. Một trong những giải pháp phòng ngừa tốt nhất là việc kích thích lợi ích, nhƣ việc khen thƣởng cho các tổ chức và cá nhân có thành tích xuất sắc trong bảo vệ môi trƣờng, các nhà hàng quản lý chất thải 10 tốt, việc tuyên truyền cho nhân dân thấy đƣợc lợi ích của việc bảo vệ môi trƣờng cũng nhƣ tác hại của việc ô nhiễm chất thải du lịch gây ra. Nguyên tắc phòng ngừa trong quản lý chất thải du lịch giúp giảm thiểu chi phí bỏ ra để khắc phục hậu quả của ô nhiễm chất thải du lịch. Chi phí bỏ ra để khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trƣờng do chất thải du lịch sẽ lớn hơn rất nhiều so với chi phí để thực hiện các biện pháp phòng ngừa.
Ví dụ nhƣ, chi phí cho việc tuyên truyền về những nguy hiểm của chất thải du lịch gây ra, việc đầu tƣ các máy xử lý nƣớc thải sẽ thấp hơn rất nhiều so với chi phí khắc phục hậu quả của ô nhiễm nguồn nƣớc. Phòng ngừa đôi khi chính là một biện pháp để bảo vệ môi trƣờng.