CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH BÀI DẠY VÀ GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng năng lực giảng dạy và giáo dục cho giáo viên Chủ tịch Hồ Chí Minh được coi là một nhà GD của Việt Nam trong bức thư gửi tới các cán bộ, cô giáo, thầy giáo, công nhân viên, học sinh, sinh viên nhân dịp bắt đầu năm học mới ngày 16 tháng 10 năm 1968 đã viết: “GD nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do đó các ngành, các cấp, Đảng, chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp GD của ta những bước phát triển mới”, “Cán bộ và GV phải tiến bộ cho kịp thời đại mới làm được nhiệm vụ, chớ tự túc tự mãn cho là giỏi rồi thì dừng lại” [28, tr. Nội dung trên đã một lần nữa nhắc nhở chúng ta về vấn đề phát triển GD và nâng cao chất lượng GV.
Trải qua nhiều chế độ xã hội khác nhau song loài người dù ở chế độ nào thì vị trí, vai trò của người GV đều được đánh giá cao, điều đó cho thấy sự vĩ đại của nghề dạy học là không thể phủ nhận được.Cômenxki là một nhà giáo dục vĩ đại người Séc là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân văn, cách đây 400 năm đã gọi người GV là người “chuyển giao ngọn đuốc của nền văn minh”, “sợi dây chuyền giữa các thế hệ”. Nhà sư phạm dân chủ người Đức A.Đixtecvec cho rằng: “chính GV là những người gieo hạt giống, không có giáo viên thì thế giới sẽ lùi lại chỗ dã man”… Ngoài ra, còn có nhiều lời ca ngợi và khẳng định khác về vai trò, vị trí của người thầy bài dạy như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Không có thầy giáo thì không có giáo dục”. Trong những năm gần đây, các cơ sở giáo dục đã quan tâm đến công tác BD năng lực xây dựng kế hoạch bài dạy và giáo dục cho GV, từ đó đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng GV. Sứ mệnh của các thầy cô giáo và cán bộ QLGD của các nhà trường có ý nghĩa đặc biệt.
Giáo viên là người đại diện cho đạo 7 đức và trí tuệ của quốc gia. Nâng cao năng lực và chất lượng GV là một yêu cầu rất cấp thiết, là yếu tố cơ bản quyết định tới sự phát triển của giáo dục. Trong thời đại ngày nay, đặc biệt là chúng ta đang thực hiện năm thứ 3 chương trình giáo dục phổ thông 2018 thì GV được coi là động lực cơ bản để thúc đẩy sự phát triển của kinh tế- xã hội, đồng thời vai trò của người GV lại càng được coi trọng, chức năng, nhiệm vụ của họ cũng đã có nhiều thay đổi và các yêu cầu đối với một người GV lại ngày càng cao hơn. Một nhà giáo dục nổi tiếng người Ấn Độ trong thế kỷ XXI là Raja Roy Singh đã khẳng định: “GV giữ vai trò quyết định trong quá trình giáo dục và đặc biệt trong việc định hướng lại GD”.
Trong quá trình bài dạy cho học sinh, người GV không chỉ là người truyền thụ cho học sinh những tri thức, hướng dẫn, cố vấn, truyền lửa, là những tấm gương, những người mẫu mực của người học. Một GV không phải chỉ là người chuyên về một ngành hẹp là họ chính là một người cán bộ tri thức, học sâu hiểu rộng, một người học suốt đời. Các nhà nghiên cứu QLGD Xô Viết (cũ) như M.Khuđominxki đã rất quan tâm tới việc nâng cao chất lượng GV thông qua các giải pháp QL có hiệu quả. Muốn nâng cao chất lượng GD thì phải có các thầy cô giáo có trình độ chuyên môn sâu rộng, năng lực tay nghề vững vàng, nhiệt tình tâm huyết sáng tạo.
Họ cho rằng kết quả toàn bộ hoạt động giáo dục của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lí, sáng tạo của công tác quản lý hoạt động BD, phát triển nâng cao trình độ tay nghề của giáo viên nhà trường. Các nhà nghiên cứu về QLGD của Liên Xô như M. Khudominxki rất quan tâm đến việc nâng cao chất lượng bài dạy thông qua các giải pháp quản lý GD hiệu quả. Để nâng cao chất lượng bài dạy, giáo dục của nhà trường cần phải có GV đạt chuẩn và trên chuẩn.
Họ cho rằng kết quả hoạt động giáo dục của toàn trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác quản lý hoạt động BD năng lực xây dựng kế hoạch giáo dục và bài dạy cho thầy cô giáo. Chất lượng của một hệ thống GD không thể vượt qua chất lượng của các GV trong hệ thống đó. Do đó, vai trò và sứ mệnh của người GV là rất quan trọng. Muốn thế, GV phải được thường xuyên đào tạo, BD để nâng cao kiến thức, năng lực tay nghề bằng cách học suốt đời, tự học tự bồi dưỡng và theo học các lớp đào tạo, bồi 8 dưỡng trình độ tay nghề.
Đa số các nước trên thế giới đều coi hoạt động BD GV là một trong những vấn đề cơ bản trong phát triển GD. Việc tạo ra các cơ hội, điều kiện thuận lợi để mọi người có cơ hội học tập, nghiên cứu thường xuyên để kịp thời bổ sung kiến thức, đổi mới phương thức hoạt động, phương pháp bài dạy, phương pháp đổi mới kiểm tra đánh giá và đặc biệt là năng lực xây dựng kế hoạch giáo dục và bài dạy đáp ứng nhu cầu đổi mới, thực hiện có hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông 2028, đáp ứng phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội là phương châm hành động của các cấp QLGD. Chính vì vậy, công tác đào tạo, BD GV nhằm nâng cao năng lực chuẩn nghề nghiệp luôn là vấn đề được ngành GD quan tâm và là chủ đề cho nhiều đề tài nghiên cứu những năm gần đây. Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài đã đề cập và nêu bật vai trò, phẩm chất, năng lực và những đặc điểm lao động đặc thù của người GV phải kể đến N.M Iacôplep (1975), "Phương pháp và kĩ thuật lên lớp ở trường phổ thông", (tập 1), hay tác phẩm: “Tự đào tạo để bài dạy” của giáo sư khoa học GD người Pháp Patrice Pelpel; Michel Develay (1994), "Một số vấn đề về đào tạo giáo viên".
các công trình này đã đưa những nội dung cơ bản của việc dạy và học cũng như các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng, kỹ xảo đối với người GV và các biện pháp thực hiện. Trong nghiên cứu của Phạm Thị Hương (2020) về Xây dựng chương trình bồi dưỡng năng lực dạy học thí nghiệm các môn khoa học tự nhiên cho giáo viên trung học cơ sở. Nghiên cứu đã đưa ra đề xuất quy trình xây dựng chương trình bồi dưỡng gồm 5 bước được cụ thể hóa: (1) Khảo sát năng lực dạy học thực hành thí nghiệm của giáo viên, (2) Xây dựng mục tiêu chương trình, (3) Thiết kế chương trình, (4) Triển khai chương trình, (5) Đánh giá chương trình[41]. Hoàng Thanh Tú (2017) Phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông Việt Nam.
Nghiên cứu khảo sát 64 GV môn Lịch sử tốt nghiệp Theo nhận định chung, chương trình đào tạo giáo viên lịch sử đã giúp giáo viên cập nhật các phương pháp mới và áp dụng một phần vào thực tế giảng dạy (63,8% ý kiến của giáo viên). 44,9% giáo viên cho rằng đào tạo bổ sung, đào tạo lại là một trong những lợi ích giúp giáo viên chuẩn bị giảng dạy theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới. Nội dung các khóa đào tạo thống nhất, khắc phục tình trạng thiếu các 9 chương trình đào tạo ở các trường sư phạm tập trung vào phương pháp, kỹ thuật dạy học các môn học (63,8% ý kiến). Về phương pháp, kỹ thuật thực hiện của giảng viên, chuyên gia trong các khóa đào tạo, 27,5% số người được hỏi cho rằng, phương pháp, kỹ thuật thực hiện của giảng viên và chuyên gia chú trọng thực hiện thực tế, khuyến khích học viên tham gia, tìm kiếm sản phẩm.
phiên đào tạo. Các nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực giảng dạy và giáo dục cho giáo viên Trong cuốn sách “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, các tác giả Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich đã chỉ ra: Cuối thế kỷ XX, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý, như: Quản lý theo quan điểm hệ thống, quản lý tình huống; trong đó, vấn đề nâng cao chất lượng người quản lý được đề cập, nổi bật là các yêu cầu về chất lượng của người quản lý. Quản lý là một chuỗi các hành động và nhiệm vụ liên quan đến việc vận dụng có hiệu quả và có tổ chức cao các nguồn lực trong tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức (Sapre, 2002) và QLGD có thể được coi là một kỷ luật đối với việc quản lý các tổ chức GD. Từ một góc độ khác, Bolam (1999) cho rằng QLGD là một chức năng thực thi để thực hiện các chính sách đã quyết định và phân biệt giữa QLGD và lãnh đạo GD.
Tuy nhiên, cần có mối liên hệ chính giữa mục tiêu và mục đích của GD và hành động của QLGD và do đó, quá trình xác định mục tiêu của các tổ chức là nền tảng của QLGD (Bush,2010); Tác giả J.Komenxki (1592- 1670), nhà GD tiêu biểu Cộng hòa Séc, ông đã đề cao vai trò của GD và những yêu cầu của người GV trong hoạt động bài dạy; Michel Develay (1994) bàn về các vấn đề đào tạo GV, như quan niệm nội dung, phương thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp của giáo viên. Ông quan niệm: “Đào tạo, BD giáo viên mà không làm cho họ có trình độ cao về năng lực tương ứng không chỉ với các sự kỉện, khái niệm, định luật, lý thuyết, hệ thống hóa của môn học đó, mà còn cả với khoa học luận của chúng là không thể được” [27]. Còn Anderson (2008), nhấn mạnh việc phát triển cán bộ GV là một phần rất quan trọng trong hệ thống GD vì nó ảnh hưởng đến chất lượng quá trình giảng dạy và học tập của học sinh. Phát triển GV được tác giả xác định là những hoạt động chính 10 quy được tổ chức bởi cá nhân hoặc tập thể để thúc đẩy sự phát triển làm mới, phát triển đội ngũ.