CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC HIỆU TRƯỞNG THEO CHUẨN HIỆU TRƯỞNG 1. Những khái niệm cơ bản 1. Quản lý Sử gia Daniel A.Wren đã nhận xét rằng: “Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy”. Điều đó chứng tỏ quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm và hoạt động quản lý - đã từ lâu được coi là một thuộc tính lịch sử, bởi vì quản lý là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công lao động, sự hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định nhằm đạt hiệu quả và năng suất lao động cao hơn.
Do đó, cần có người đứng đầu để chỉ huy, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh… Nó gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người và thường xuyên biến đổi. Trong lịch sử tư tưởng quản lý đã có một “sự tiến hoá” của các tư tưởng quản lý từ “thời thượng cổ” đến nay. Ở phương Đông, Khổng Tử đã đề cao và xác định rõ vai trò cá nhân của người làm công tác quản lý, đặc biệt ông đã để lại một câu khá lý thú cho những người làm quản lý “Bất tại kỳ vị bất mưu kỳ chính” (không ở vào địa vị ấy đừng nên bàn thành phố của nơi ấy). Marx lại nói về sự ra đời tất yếu của quy luật bằng một cách nói rất hình ảnh, độc đáo: “Một nghệ sỹ độc tấu thì tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”.
Ý tưởng sâu sắc của Marx hàm chứa mối quan hệ biện chứng giữa hai phạm trù “tổ chức” và “quản lý”. Tổ chức là yếu tố nảy sinh ra hoạt động quản lý và nó sẽ không phát triển nếu thiếu hoạt động quản lý. Theo giáo trình của Học viện chính trị quốc gia (1998) “ quản lý là sự kết hợp giữa tri thức và lao động” {41} 8 Quan niệm này lại cho ta thấy có 3 yếu tố cốt lõi (từ thời tiền sử tới ngày nay trong xã hội loài người) là : tri thức, lao động, quản lý mà quản lý lại bao hàm sự kết hợp giữa tri thức và lao động. Giá trị của đại lượng: quản lý = tri thức + lao động phụ thuộc vào tổng: (tri thức + lao động ) (sự kết hợp); Nếu sự kết hợp này tốt (giá trị đại lượng đó cao) thì xã hội sẽ phát triển tốt (vì sự quản lý đạt hiệu quả) và ngược laị, xã hội sẽ trì trệ thậm chí rối ren và thụt lùi, nếu sự kết hợp không tốt.
Cũng theo giáo trình của Học viện chính trị quốc gia, quản lý là một quy trình công nghệ và “có nghĩa là điều khiển” mà đối tượng điều khiển của nó là các mối quan hệ giữa: con người với thiên nhiên, con người với kỹ thuật công nghệ (máy móc, phương tiện hiện đại), con người với con người. Do đó quản lý là “ sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục tiêu đã đề ra và đúng với ý chí của người quản lý” Định nghĩa này thể hiện ý chí của người quản lý, nó hàm chứa mầu sắc chính trị và quan điểm giai cấp. Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Hoạt động quản lý (management) là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) - trong một tổ chức. Định nghĩa này cho ta thấy bất luận một tổ chức nào, có mục tiêu gì, cơ cấu, quy mô ra sao đều phải có sự quản lý, người quản lý để tổ chức đó hoạt động và đạt được mục tiêu.{15} Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất cả các tác giả đều thống nhất về vấn đề cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời câu hỏi: Ai quản lý ? (chủ thể quản lý), Quản lý ai ? Quản lý cái gì ? (khách thể quản lý), Quản lý như thế nào ? (phương thức quản lý), Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý),Quản lý nhằm làm gì?(mục tiêu), và từ đó chúng ta cũng nhận thức được: Bản chất của quản lý là những hoạt động của 9 chủ thể quản lý tác động có chủ đích vào khách thể quản lý để đảm bảo cho hệ thống tồn tại, ổn định và phát triển lâu dài, vì mục tiêu và lợi ích của hệ thống.
Đặc trưng cơ bản của quản lý là tính tác động có chủ định và khả năng làm tăng tính ổn định, tính tổ chức của hệ thống. Chúng ta có thể hiểu khái niệm quản lý theo nghĩa chung nhất: Quản lý là sự tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý bằng những công cụ, phương pháp mang tính đặc thù trong việc thực hiện các chức năng quản lý để đạt được mục tiêu chung của hệ thống. Quá trình quản lý là thực hiện các chức năng quản lý. Theo quan điểm quản lý của H.Fayol, chức năng quản lý bao gồm: - Lập kế hoạch: Là quá trình thiết lập các mục tiêu, hệ thống các hoạt động và điều kiện đảm bảo thực hiện các mục tiêu.
Đây là khâu đầu tiên của chu trình quản lý. - Tổ chức : Sự chuyển hoá những ý tưởng trong kế hoạch thành hiện thực. Là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, phân bổ quyền hành và các nguồn lực cho thành viên trong tổ chức. - Chỉ đạo: Là điều hành, điều khiển, chỉ dẫn QL hoạt động theo đúng kế hoạch.
Nó kết nối và thẩm thấu vào 2 chức năng trên. - Kiểm tra, đánh giá: Là chức năng cuối cùng của chu trình quản lý. Là hoạt động của của người quản lý kiểm tra và đánh giá các hoạt động của đơn vị về việc thực hiện mục tiêu đặt ra tạo cơ sở để điều chỉnh mục tiêu và các hoạt động quản lý khác. Các chức năng trên là chức năng cơ bản của chu trình quản lý.
Ngoài ra, để thực hiện các chức năng này, cần có thông tin. Vì vậy, thông tin Quản lý trở thành điều kiện thiết yếu để thực hiện. Trong một chu trình quản lý cả 4 chức năng trên phải được thực hiện liên tiếp và đan xen vào nhau; phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết 10 nối giữa chu trình này sang chu trình khác theo hướng phát triển, trong đó thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là điều kiện cho việc ra quyết định quản lý. Quản lý giáo dục Giáo dục là một bộ phận của xã hội, nên QLGD là một loại hình quản lý xã hội.
Có nhiều quan điểm khác nhau, song các nhà nghiên cứu lý luận GD đều cho rằng: QLGD là sự tác động có ý thức, có mục tiêu của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một cách có hiệu quả nhất. QLGD được hiểu một cách cụ thể là QL một hệ thống GD, một trường học, một cơ sở giáo dục hay một trung tâm dạy nghề,…Trường học là một tổ chức GD cơ sở, trực tiếp làm công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ và các lực lượng lao động. Năng lực Là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể hiện một cách thành thục và chắc chắn một hay một số dạng hoạt động nào đó. Năng lực gắn liền với phẩm chất tâm lý, phẩm chất trí tuệ, phẩm chất ý chí, phẩm chất sức khỏe, thể chất và tâm trí của con người.
Năng lực có thể được phát triển trên cơ sở năng khiếu, song không phải là bẩm sinh mà là kết quả hoạt động của con người và kết quả phát triển của xã hội (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân). Năng lực cao đạt được những thành tựu hoàn thiện, xuất sắc, mới mẻ, có ý nghĩa xã hội là tài năng. Tài năng đặc biệt làm nên kỳ tích trong hoạt động sáng tạo, vượt lên trên mức bình thường gọi là thiên tài. Năng lực quản lý Năng lực quản lý của người quản lý chính là sự tương hợp giữa khả năng tâm lý (bao gồm các thành tố: Kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có để thực hiện hoạt động quản lý) và yêu cầu của hoạt động quản lý.
Hệ thống 11 các tiêu chí năng lực quản lý là những nhiệm vụ, công việc mà người quản lý phải thực hiện trong “nghề quản lý của mình”. Trong bất cứ hoạt động nào của con người cũng đòi hỏi phải có năng lực tương ứng để thực hiện hoạt động đó đạt được mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, quản lý không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật, vì thế năng lực quản lý mới chỉ là những điều kiện cơ bản, muốn quản lý thành công, người quản lý còn cần phải có những kinh nghiệm quản lý phong phú, thích hợp. Bồi dưỡng Trong QLGD, công tác bồi dưỡng thường được gắn liền với đào tạo và đã từ lâu, cụm từ Đào tạo - Bồi dưỡng đã trở thành một định danh chỉ một công việc của ngành GD&ĐT nói chung và của các cấp quản lý từ Bộ đến Sở và phòng Giáo dục nói riêng.
Trong giáo dục, bồi dưỡng là quá trình tiếp nối đào tạo nhằm nâng cao năng lực và phẩm chất chuyên môn cho người lao động, là quá trình “cập nhật hoá kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo các chuyên đề”. Bồi dưỡng thực chất là nhằm làm giàu vốn kiến thức, nâng cao hiệu quả lao động từ việc bồi đắp những thiếu hụt về tri thức, cập nhật cái mới trên cơ sở “nuôi dưỡng”, “giữ gìn” những cái cũ còn phù hợp để mở mang có hệ thống những tri thức, kỹ năng, nghiệp vụ. Quy định về HT trường THCS 1. Hiệu trưởng trường THCS (Theo điều 18 và điều 19) Hiệu trưởng trường THCS là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lí các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường.
Hiệu trưởng do Trưởng phòng giáo dục và đào tạo bổ nhiệm đối với trường THCS công lập và công nhận đối với trường THCS tư thục theo quy trình bổ nhiệm hoặc công nhận HT của cấp có thẩm quyền. 12 Người được bổ nhiệm hoặc công nhận làm HT trường THCS phải đạt chuẩn hiệu trường trường THCS. Nhiệm kì của HT trường THCS là 5 năm. Sau 5 năm, HT được đánh giá và có thể được bổ nhiệm lại hoặc công nhận lại.
Đối với trường THCS công lập, HT được quản lí một trường THCS không quá hai nhiệm kì.