CHƯƠNG 1 QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 1. Khái quát vấn đề nghiên cứu. Những nghiên cứu về năng lực sử dụng PPDH theo hướng PTNL học sinh của GV tiểu học Hoạt động giáo dục đòi hỏi sự chú trọng không chỉ vào nội dung giảng dạy mà còn, và quan trọng hơn cả, vào PPDH tối ưu. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung và PPDH, học tập.
Đổi mới phương pháp theo hướng tích cực nhằm thúc đẩy sự chủ động của học sinh, coi học sinh là trung tâm, GV là người định hướng, tổ chức. Muốn học sinh tích cực đổi mới phương pháp học tập, GV cần tiên phong mạnh mẽ đổi mới PPDH. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu, áp dụng PPDH được khẳng định qua danh ngôn: "Phương pháp quan trọng hơn phát minh" (Lep Lanđao). Bài viết của Trà Thị Kiều Loan (Học viên Cao học, Đại học Vinh) trên tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm TP.HCM số 28 (2011) đã trình bày chi tiết vấn đề này đã nêu: Đổi mới PPDH không phải là vấn đề thời đại, mà là vấn đề xuyên suốt lịch sử giáo dục.
Trên nền tảng các phương pháp truyền thống, mỗi nhà giáo đều không ngừng tìm tòi, sáng tạo phương pháp riêng. Ngay từ thời cổ đại, Socrates (470-399 TCN) đã nổi tiếng với phương pháp “truy vấn biện chứng”, tiền thân của phương pháp nêu vấn đề hiện đại; Khổng Tử (551-479 TCN) đã chú trọng đến sự khác biệt cá nhân của học sinh. Ở các thế kỉ XVII-XIX, người ta biết đến J. Komensky (1592-1670), “cha đẻ của nền giáo dục hiện 7 đại”, với những quan điểm và cách thức dạy học rất nhân văn mà ông đã trình bày trong các tác phẩm rất có giá trị của mình; Jean-Jacques Rousseau (1712- 1778) với PPDH cho trẻ các yếu tố khoa học; hoặc Johann Heinrich Pestalozzi (1746- 1827), nhà cải cách giáo dục Thụy Sĩ, phát triển các phương pháp giáo dục nhằm thúc đẩy khả năng của trẻ… Đặc biệt trong thế kỷ XIX, mô hình giáo dục bắt buộc được vận dụng ở nhiều quốc gia, mô hình này đặt nặng kỹ năng tổ chức và quản lý lớp học của người thầy, xem nó như là một thành tố không thể thiếu của quá trình vận dụng các PPDH.
Hiện nay, việc nghiên cứu và áp dụng các PPDH tiên tiến vẫn đang được tiến hành trên phạm vi toàn cầu. Nhiều công trình nghiên cứu, ví dụ như công trình "Cấu trúc tạo nhóm học tập hợp tác" của tiến sĩ Spencer Kagan (Mỹ), được ứng dụng rộng rãi và hiệu quả ở nhiều lứa tuổi học sinh. Đánh giá chung về năng lực sử dụng các PPDH theo hướng PTNL học sinh của GV tiểu học huyện Sông Mã hiện nay: Qua khảo sát tự đánh giá năng lực sử dụng PPDH tích cực của 170 GV thuộc 3 trường Tiểu học Chiềng Cang, Tiểu học xã Chiềng Khoong, Tiểu học xã Chiềng Phung theo 4 mức cho thấy, số GV có năng lực sử dụng PPDH theo hướng PTNL học sinh thấp và rất thấp chiếm khoảng gần 20%, trong đó gần 5% có mức rất thấp. Điều này cho thấy GV các trường tiểu học huyện Sông Mã thực hiện việc dạy học chủ yếu vẫn theo chương trình và sách giáo khoa, PPDH chủ yếu vẫn là giảng giải, thuyết trình trước tập thể lớp đông HS nên chưa tạo cơ hội PTNL, phẩm chất cho học sinh.
Nguyên nhân dẫn đến những hậu quả trên: Không giống như các bậc học khác, GV bậc tiểu học phải thực hiện dạy nhiều môn học khác nhau (bình quân từ 8 đến 11 môn học), trong đó, có những môn đòi hỏi phải có năng khiếu như âm nhạc, mỹ thuật mà không phải ai cũng có được. Trong một buổi học, họ phải tổ chức từ bốn đến năm tiết học thuộc nhiều phân môn khác nhau. Do đó, GV chỉ có thể tập trung chuẩn bị cho một vài tiết học như Tiếng 8 Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lý, Ngoại ngữ, Tin học hoặc là những tiết được thanh tra, kiểm tra, các tiết dạy có đồng nghiệp dự giờ. Thực tiễn đổi mới PPDH hướng đến PTNL học sinh vẫn gặp nhiều bất cập trước sự đổi mới đột ngột của giáo dục.
Những thách thức về nhận thức, trình độ chuyên môn, thời gian, nguồn lực tài chính, và đặc biệt là kỹ năng phối hợp, triển khai các phương pháp sư phạm, kể cả những hạn chế từ khâu quản lý, đã phần nào kìm hãm hiệu quả mong muốn. Những nghiên cứu về quản lý HĐBD năng lực sử dụng PPDH theo hướng PTNL của học sinh cho GV các trường tiểu học Quản lý HĐBD năng lực sử dụng PPDH theo hướng PTNL của học sinh cho GV các trường tiểu học là đề cập đến thực trạng của HĐBD năng lực sử dụng PPDH theo hướng PTNL của học sinh cho đội ngũ GV các trường tiểu học thuộc huyện Sông Mã, nhằm đáp ứng mục tiêu chương trình GDPT 2018. Đánh giá thực trạng năng lực sử dụng PPDH theo hướng PTNL học sinh của GV tiểu học và việc tổ chức HĐBD năng lực sử dụng PPDH theo hướng PTNL của học sinh cho GV các trường tiểu học huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Năng lực và năng lực sử dụng các PPDH theo hướng PTNL học sinh của GV tiểu học 1.
Khái niệm năng lực và năng lực sử dụng các PPDH theo hướng PTNL học sinh: 1. Năng lực Năng lực là một phạm trù đã được các nhà khoa học xem xét như là một trong những thành tố cơ bản của cấu trúc nhân cách con người. Ngày nay, khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau do cách tiếp cận khác nhau nhưng tựu chung lại có hai nhóm quan điểm chính: 9 Theo Gônôbôlin, năng lực là những thuộc tính tâm lý giúp cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Theo tác giả Phạm Minh Hạc nhận định năng lực là tổ hợp các đặc điểm tâm lý cá nhân, đáp ứng được những đòi hỏi của một hoạt động nhất định và là điều kiện để thực hiện hoạt động đó có kết quả” [16].
Tác giả Vũ Dũng cho rằng năng lực là sự kết hợp các thuộc tính cá nhân độc đáo, đáp ứng yêu cầu của hoạt động, đảm bảo kết quả tốt đẹp [11]. Tác giả Đặng Thành Hưng bổ sung, năng lực là thuộc tính cá nhân giúp cá nhân thành công trong hoạt động, đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện nhất định. Kết luận của F. Weinert tại Hội nghị chuyên đề về năng lực cơ bản của Hội đồng châu Âu khẳng định năng lực được thể hiện qua hệ thống khả năng, sự thành thục, hay những phẩm chất cần thiết, giúp con người đạt được mục tiêu định trước.
Sự đa dạng trong định nghĩa phản ánh sự phức tạp và đa chiều của khái niệm năng lực, đòi hỏi sự thấu hiểu toàn diện để ứng dụng hiệu quả trong giáo dục. Cũng tại diễn đàn trên, J. Phân tích khái niệm "năng lực" từ các góc nhìn học thuật cho thấy sự đa chiều và phức tạp của nó.A, một học giả người Mỹ, định nghĩa năng lực là sự hội tụ của tri thức, quan điểm, kỹ năng và chiến lược tư duy, cấu thành nền tảng cốt yếu cho việc kiến tạo các sản phẩm chất lượng cao. Theo quan điểm của Rogies X, năng lực được thể hiện qua khả năng vận dụng kiến thức và kỹ năng trong những bối cảnh thực tiễn.
Barnett, một học giả khác, tiếp cận khái niệm năng lực như một tổng hợp hài hòa giữa tri thức, kỹ năng và thái độ, tất cả đều hướng đến sự thành công trong hoạt động thực tế. Tương tự, quan điểm của Quebec-Ministere de l’Education nhấn mạnh năng lực là sự kết hợp 10 nhuần nhuyễn giữa tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và sự hứng thú, nhằm giải quyết hiệu quả các vấn đề đa dạng của đời sống. Mặc dù tồn tại những sắc thái khác biệt trong định nghĩa, các học giả đều nhất trí về bản chất tổng hợp của năng lực. Năng lực không phải là một yếu tố đơn lẻ mà là sự tổng hoà phức tạp của nhiều thành tố, tác động qua lại và bổ trợ lẫn nhau.
Năng lực vượt ra ngoài phạm vi thuần túy của tri thức và kỹ năng, đòi hỏi sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả các nguồn lực phù hợp trong mỗi hoàn cảnh cụ thể, nhằm đáp ứng các yêu cầu phức tạp đặt ra. Tóm lại, năng lực được xem như sự kết hợp chặt chẽ của kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm cá nhân, cho phép cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong điều kiện cụ thể và theo đúng chuẩn mực đã đề ra. Sự thành công trong việc vận dụng năng lực phụ thuộc vào khả năng tích hợp và vận dụng linh hoạt các yếu tố cấu thành. Năng lực sử dụng các PPDH theo hướng PTNL học sinh của GV tiểu học Thực thi mô hình giáo dục tiên tiến đòi hỏi sự cải tổ toàn diện phương pháp sư phạm.
Thay vì truyền thụ tri thức một chiều, người dạy cần định hướng học sinh tích cực tham gia, ứng dụng kiến thức, trau dồi kỹ năng, kiến tạo nhân cách toàn diện. Quan hệ hợp tác giữa giảng viên và học trò là nhân tố chủ chốt trong việc vun đắp năng lực cộng đồng của học sinh. Song song với việc tiếp thu kiến thức chuyên môn, việc thiết kế các dự án học tập liên ngành, giải quyết vấn đề thực tế xã hội là điều không thể thiếu. Để bồi dưỡng và PTNL học sinh, PPDH cần khơi nguồn sự chủ động, tích cực của người học.
Học sinh cần được rèn giũa kỹ năng tự học, bao gồm khả năng đọc hiểu tài liệu, ghi chép thông tin, tìm kiếm tri thức. nhằm hình thành khả năng tư duy độc lập, chủ động sáng tạo. Việc lựa chọn PPDH cần linh hoạt, kết hợp hài hòa giữa phương pháp chung và phương pháp chuyên 11 sâu. Dù phương pháp nào được áp dụng vào dạy học, thì nguyên tắc then chốt vẫn là sự tự giác, chủ động lĩnh hội tri thức của người học dưới sự dẫn dắt, định hướng bài giảng của người thầy.
Phương pháp giảng dạy luôn song hành cùng mô hình tổ chức bài học. Mỗi mô hình, từ học tập cá nhân đến nhóm, từ trong lớp học đến thực tế ngoài trời, đều được thiết kế phù hợp với mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể. Riêng các bài thực hành đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng về phương pháp, nhằm mục đích rèn luyện kỹ năng thực tiễn, ứng dụng tri thức, và gia tăng sự hứng thú cho người học.