CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG XÂY DỰNG KẾ HOẠCH BÀI DẠY MÔN TIẾNG VIỆT CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGÔN NGỮ NGƯỜI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về bồi dưỡng giáo viên và bồi dưỡng giáo viên tiểu học theo hướng phát triển năng lực Nghiên cứu chuyên sâu về lý luận bồi dưỡng giáo viên được triển khai. Darling-Hammond (2006) khẳng định tầm quan trọng của đào tạo thường xuyên nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ giáo viên.Các mô hình phổ biến như mô hình bồi dưỡng tại chỗ (on-the-job training), bồi dưỡng qua cộng đồng học tập chuyên môn (PLC), và bồi dưỡng qua công nghệ trực tuyến đều được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi.
Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2014) đã phân tích tầm quan trọng của việc sử dụng các phương pháp bồi dưỡng phù hợp, như hội thảo chuyên đề, nghiên cứu bài học, tư vấn sư phạm, nhằm phát triển năng lực thực tiễn của giáo viên [13]. Các nghiên cứu gần đây, như của Voogt và Roblin (2012), nhấn mạnh việc bồi dưỡng giáo viên cần gắn liền với phát triển năng lực người học, phù hợp với mục tiêu của giáo dục thế kỷ 21. Những năng lực chính như tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, giao tiếp và hợp tác được đưa vào chương trình bồi dưỡng giáo viên Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Công Khanh (2018) đã phân tích nhu cầu bồi dưỡng giáo viên nhằm thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018, đặc biệt tập trung vào phát triển năng lực dạy học tích hợp và phân hóa. Tài liệu về xây dựng giáo án cho giáo viên tiểu học ở Việt Nam còn 6 hạn chế.
Tuy nhiên, có những nghiên cứu tập trung vào phát triển và đào tạo chuyên môn cho giáo viên trong nhiều bối cảnh khác nhau. (Fry và cộng sự, 2006) đã khám phá việc sử dụng công nghệ không dây để liên lạc giữa các giáo viên sinh viên ở Singapore, nhấn mạnh tầm quan trọng của giao tiếp trong vai trò giảng dạy. (Yost và cộng sự, 2009) đã thảo luận về vai trò của lãnh đạo giáo viên trong việc tư vấn, hướng dẫn và hỗ trợ soạn giáo án cho giáo viên trung học cơ sở thành thị trong dự án phát triển chuyên môn Project Đạt. Trong một nghiên cứu của (Chiphiko và cộng sự, 2014) ở Malawi, việc thực hiện các phương pháp lấy người học làm trung tâm ở các trường tiểu học đã được kiểm tra, nhấn mạnh những thách thức mà giáo viên phải đối mặt khi chuyển từ phương pháp giảng dạy lấy người học làm trung tâm sang phương pháp giảng dạy lấy người học làm trung tâm.
(Tsukui và cộng sự, 2017) đã tiến hành quan sát lớp học của giáo viên Việt Nam để hiểu những giá trị cơ bản ảnh hưởng đến việc học của học sinh, nêu bật tầm quan trọng của việc khám phá các phương pháp giảng dạy khác nhau. Mặc dù trọng tâm của tài liệu này không đặc biệt tập trung vào giáo viên tiểu học Việt Nam, nhưng các nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết sâu sắc về phát triển chuyên môn, phương pháp giảng dạy và sử dụng công nghệ trong giảng dạy. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để giải quyết cụ thể những thách thức và chiến lược xây dựng giáo án hiệu quả cho giáo viên tiểu học ở Việt Nam. Nhiều công trình nghiên cứu trong nước đã làm sáng tỏ tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực giảng dạy, nhất là đối với giáo viên tiểu học.
Các nghiên cứu, dù khác biệt về phương pháp tiếp cận, đều nhất trí về sự cấp thiết phải đầu tư phát triển chuyên môn cho đội ngũ này, hướng tới mục tiêu hoàn thiện năng lực sư phạm. Việc bồi dưỡng giáo viên, đặc biệt ở cấp tiểu học, là yếu tố then chốt. Luận án năm 2006 của Nguyễn Thanh Phú, "Phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học dân tộc tỉnh Bình Phước", đã khảo sát lý luận về phát triển đội 7 ngũ sư phạm, đặc biệt tại các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số tỉnh này. Hai công trình nghiên cứu của Nguyễn Quang Nhữ (2013,2014) đã cung cấp cái nhìn toàn diện về việc bồi dưỡng giáo viên tiểu học.
Hai công trình nghiên cứu đã được thực hiện, tập trung vào việc nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên tiểu học. Công trình thứ nhất, "Bồi dưỡng giáo viên tiểu học - Thực trạng và biện pháp", đã luận chứng lý thuyết và thực tiễn nhằm đáp ứng chuẩn nghề nghiệp. Tiếp theo, công trình "Một số vấn đề về bồi dưỡng giáo viên tiểu học" đã phân tích toàn diện tầm quan trọng, nội dung, phương pháp triển khai và đánh giá hiệu quả chương trình bồi dưỡng.Cả hai đều có đóng góp quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học, bao quát cả lý thuyết và thực tiễn. Nghiên cứu năm 2015 đề cập đến các biện pháp bồi dưỡng chuyên môn, kiến thức sư phạm, góp phần hiện thực hóa việc triển khai sách giáo khoa mới.
Các đề xuất này hướng tới mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảo sự tiến bộ của giáo dục vùng Tây Bắc. Nhiều tác giả khác có các công trình nghiên cứu điển hình về phát triển và bồi dưỡng giáo viên tại các tỉnh, thành phố tại Việt Nam cũng đã xây dựng được hệ thống cơ sở lý luận, đánh giá được thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên các cấp và có cả các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp như Tác giả Phan Minh Tiến, Nguyễn Thị Thanh Tình, 2016, Nguyễn Thị Thanh Vân, 2012, Nguyễn Văn Tuân, 2012; Nông Thị Quyên, 2000; Ngoài ra có các công trình nghiên cứu đặc trưng đã nghiên cứu về bồi dưỡng giáo viên tiểu học. Tác phẩm của GS. Đặng Thành Hưng đã phân tích sâu rộng về mô hình quản lý giáo dục, nhấn mạnh sự cần thiết của phân quyền, tự chủ và xây dựng văn hóa trường học tích cực.
Các nghiên cứu về nâng cao năng lực sư phạm giáo viên tiểu học vùng cao, cụ thể là cộng đồng dân tộc thiểu số, đã được triển khai. Những công trình này đã làm sáng tỏ nền tảng lý luận, các yếu tố tác động đến hiệu 8 quả giảng dạy, đồng thời phản ánh thực trạng và đề xuất giải pháp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiểu học tại Cao Bằng. Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà (2002) về đào tạo và bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu cấp trung học cơ sở cũng đóng góp quan trọng vào lĩnh vực này. Tất cả đều hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục.Đã nêu lên một số vấn đề cơ bản có liên quan đến đào tạo bồi dưỡng giáo viên tiểu học qua các cuộc nghiên cứu khảo sát về việc sử dụng, tổ chức dạy học, thực hiện chương trình ở TH, qua sự khác biệt giữa giáo viên tiểu học ở các vùng miền, qua nhận định về chương trình của trường sư phạm từ đó đưa ra một vài ý tưởng về đào tạo và bồi dưỡng giáo viên xuất phát từ thực tiễn; Nghiên cứu phương pháp bồi dưỡng giáo viên tiểu học và tiểu học đáp ứng chương trình sách giáo khoa mới, Nguyễn Thị Hà, 2003, đã đưa ra những vấn đề chung: Kinh nghiệm quốc tế về bồi dưỡng giáo viên, Những yêu cầu đặt ra cho công tác BDGV nhìn từ góc độ chương trình, SGK mới ở TH và THCS; Thực trạng bồi dưỡng giáo viên tiểu học và TH đáp ứng chương trình, SGK mới và đề xuất được một số biện pháp đổi mới phương thức BDGV đáp ứng yêu cầu chương trình SGK mới ở TH và THCS; Xây dựng một số bài bồi dưỡng giáo viên tiểu học về giáo dục bảo vệ môi trường phát trên chương trình truyền hình khoa học và giáo dục VTV2, Phan Thị Lạc, 2004 đã trình bày được cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng các bài bồi dưỡng giáo viên tiểu học về GDBVMT: Môi trường, giáo dục bảo vệ môi trường, vấn đề bồi dưỡng giáo viên về GDBVMT qua kênh truyền hình; Xây dựng bài, ghi băng hình và phát sóng chương trình; Các bài bồi dưỡng GV về GDBVMT.
Đào tạo giáo viên tiểu học và chuyên môn của giáo viên tiểu học là điểm lưu tâm trong quản lý giáo dục TH. Tác giả Toutaoui và Mebdoua Zoulikha khẳng định [9] đào tạo một giáo viên tức là chuẩn bị cho người giáo viên kỹ năng giáo dục và để đạt được sự kiện đó phụ thuộc vào Năng lực của giáo viên, tạo và tương tác, và làm chủ khoa học và ứng dụng các phương pháp giảng dạy khác nhau theo từng 9 tình hình học tập, và điều đó xảy ra khi giáo viên quản lý lớp học của mình một cách vững chắc và thành công, và quản lý này cũng dựa vào tính cách của giáo viên và phong cách của mình trong giao tiếp với học sinh trong và ngoài lớp học, vì vậy tất cả cải cách giáo dục thực sự phải dựa trên việc đào tạo giáo viên; Hướng phát triển NL trong giáo dục nói chung, dạy học nói riêng được hình thành, phát triển rộng khắp ở Mỹ vào những năm 1970 và trở thành một phong trào với những nấc thang mới trong những năm 1990 ở Anh, Úc, New Zealand, xứ Wales. Phân tích chuyên sâu từ các chuyên gia giáo dục và nhân sự cho thấy, mô hình phát triển năng lực (NL) đóng vai trò then chốt trong việc hài hòa giáo dục và đào tạo, góp phần thiết yếu trong việc kiến tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu kinh tế toàn cầu và giải quyết thách thức giáo dục thế kỷ XXI. Quan điểm của J.
Rodger nhấn mạnh trọng tâm của mô hình này là kết quả học tập, tập trung vào năng lực thực tiễn của học sinh thay vì chỉ chú trọng kiến thức thuần túy. Paprock, mô hình này sở hữu năm đặc điểm cốt lõi: thứ nhất, lấy học sinh làm trung tâm; thứ hai, đáp ứng chính sách phát triển; thứ ba, định hướng thực tiễn; thứ tư, tính linh hoạt và năng động cao; và cuối cùng, tiêu chuẩn NL được định hình rõ ràng. Những đặc điểm ưu việt này đã tạo nên sự vượt trội của mô hình phát triển năng lực so với các phương pháp khác trong giáo dục hiện đại. Kerka, các ưu điểm của hướng phát triển năng lực (NL) bao gồm: Thứ nhất, tính cá nhân hóa trong học tập, cho phép học viên khắc phục điểm yếu để hoàn thành nhiệm vụ.