phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn được trình bày theo 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ hiệu trưởng trường mầm non đáp ứng Chuẩn hiệu trưởng. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý bồi dưỡng đội ngũ hiệu trưởng trường mầm non tỉnh Nam Định. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý bồi dưỡng đội ngũ hiệu trưởng trường mầm non tỉnh Nam Định đáp ứng Chuẩn hiệu trưởng. 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG ĐỘI NGŨ HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG MẦM NON ĐÁP ỨNG CHUẨN HIỆU TRƢỞNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Hiện nay nền giáo dục các nước đang phát triển theo hướng hiện đại hóa hội nhập với xu hướng phát triển chung của thế giới. Nền giáo dục tốt sẽ đào tạo ra nguồn nhân lực tốt, nâng cao vị thế quốc gia. Các nước có nền giáo dục tiên tiến hết sức coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ lãnh đạo nhà trường.
Để bồi dưỡng đội ngũ này, nhiều nước trên thế giới đã dùng các tiêu chuẩn để làm “thước đo”, làm căn cứ. - Nhiều bang của Hoa Kỳ nhấn mạnh vai trò lãnh đạo quản lý dạy học và giáo dục, coi chất lượng giáo dục học sinh là mục tiêu quan trọng nhất mà mọi hoạt động của nhà trường cần hướng tới. - Một số bang ở Austraylia quan tâm nhiều hơn đến năng lực lãnh đạo quản lý hướng đến chất lượng. - Trung Quốc chú ý đến nội dung tác nghiệp cụ thể nhằm thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm cụ thể trong quản lý nhà trường.
- IBSTPI (International Board of Standart for Training Performance and Intruction), Hội đồng quốc tế về các chuẩn hướng dẫn và triển khai đào tạo cho rằng trong lãnh đạo quản lý nhà trường thì quan trọng nhất là có chiến lược đúng và tác nghiệp giỏi. IBSTPI chia năng lực cần có của người lãnh đạo quản lý nhà trường thành 4 nhóm tiêu chuẩn. Nhóm 1: Nền tảng cơ bản của người lãnh đạo + Giao tiếp hiệu quả thông qua tất cả các hình thức thức nói, viết và nhìn. + Tôn trọng và tuân theo các chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
+ Duy trì mạng lưới các quan hệ để giúp đỡ cho chức năng đào tạo. + Cập nhật và cải thiện những kiến thức chuyên môn và nghề nghiệp, cũng như kỹ năng và thái độ. Nhóm 2: Lên kế hoạch và phân tích 6 z + Phát triển và theo dõi một kế hoạch chiến lược. + Sử dụng các khả năng phân tích để cải thiện tính tổ chức.
+ Kế hoạch và khuyến khích những thay đổi trong tổ chức. + Kỹ năng và thái độ Nhóm 3: Thiết kế và phát triển + Áp dụng những nguyên tắc thiết kế trong hệ thống giảng dạy vào dự án và đào tạo. + Sử dụng công nghệ để nâng cao chức năng quản lý đào tạo. + Đánh giá những phương pháp trong giáo dục.
Nhóm 4: Kỹ năng quản lý + Áp dụng những kỹ năng lãnh đạo vào nhiệm vụ đào tạo. + Áp dụng những kỹ năng quản lý vào nhiệm vụ đào tạo. + Áp dụng những kỹ năng kinh doanh vào nhiệm vụ đào tạo. + Xây dựng các giải pháp cho kiến thức và quản lý.
Nhóm 1 như là các điều kiện cần đối với HT, nhóm 2 là chiến lược, nhóm 3 là cầu nối từ chiến lược sang tác nghiệp và nhóm 4 là kỹ năng tác nghiệp. - Các biện pháp tổ chức thực hiện nội dung bồi dưỡng: Các nước đều tổ chức bồi dưỡng thông qua các giảng viên cốt cán, mỗi nước sử dụng đội ngũ giảng viên khác nhau, như ở Viện nghiên cứu bồi dưỡng, trường Đại học sư phạm, Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT. Ở Nhật Bản, giảng viên ở Viện nghiên cứu bồi dưỡng đảm nhiệm việc bồi dưỡng cho CBQL, GV. Học viên được phân thành từng cụm và đội ngũ giảng viên cốt cán của Viện sẽ đến trực tiếp từng cụm để bồi dưỡng cho học viên [30].
Ở Pháp, nội dung bồi dưỡng được các nhà địa phương xây dựng sau đó đặt hàng với Viện nghiên cứu bồi dưỡng, Viện có trách nhiệm cử các giảng 7 z viên cốt cán theo từng nội dung yêu cầu của địa phương, có trách nhiệm bồi dưỡng cho học viên tại địa phương. Như vậy, quản lý hoạt động bồi dưỡng CBQL, GV nói chung và bồi dưỡng HT nói riêng được nhiều quốc gia, nhiều tác giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu. Mặc dù cách tiếp cận có khác nhau, song các công trình nghiên cứu của họ đều đánh giá cao vai trò của các cấp quản lý từ trung ương đến địa phương trong công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ. Đặc biệt, các công trình nghiên cứu cho thấy một số xu thế chung trên thế giới hiện nay là quan tâm đến việc xây dựng nội dung bồi dưỡng dựa vào Chuẩn; đa dạng hóa các phương thức bồi dưỡng, quan tâm chú trọng đến việc bồi dưỡng tại các nhà trường.
Mặc dù vai trò và tầm quan trọng của các cấp quản lý ở mỗi cấp học trong hoạt động bồi dưỡng có khác nhau và cách quản lý cũng khác nhau, nhưng đều đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng đội ngũ, nếu hoạt động bồi dưỡng đội ngũ có hiệu quả thì chất lượng đôi ngũ được nâng lên. Các nghiên cứu trong nước Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về công tác cán bộ trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người đã khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi việc”, “Mọi việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong”[25]. Kế thừa và dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, công tác cán bộ nói chung, cán bộ ngành GD&ĐT nói riêng luôn được Đảng, Nhà nước và các cấp quản lý đặc biệt quan tâm, thể hiện qua các văn kiện Đại hội Đảng, chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy các cấp, của Quốc hội, Chính phủ. Kết luận Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về phương hướng phát triển GD&ĐT, khoa học công nghệ, cũng nhấn mạnh “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục một cách toàn diện” [15; tr32], “Các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương phải thường xuyên quan tâm công tác đào tạo bồi dưỡng nhà giáo và CBQL giáo dục về mọi mặt, coi đây là một phần của công tác cán bộ, giáo viên và CBQL đảm bảo đủ số lượng, cơ cấu cân đối, đạt chuẩn đáp ứng yêu cầu đổi mới” [15; tr33].
8 z Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 18/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục cũng chỉ rõ: “Mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục được chuẩn hóa đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [1]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã xác định phát triển đội ngũ giáo viên và CBQL giáo dục là một trong những nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện đổi mới căn bản toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế [3]. Trong chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ đã chú trọng công tác xây dựng và phát triển đội ngũ ở các cấp học, bậc học [11]. Trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết của tác giả bàn về vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo nói chung và CBQL giáo dục nói riêng, như: Trần Kiểm - Bùi Minh Hiển (2006), “Giáo trình quản lý và lãnh đạo nhà trường [20]; Tác giả Đặng Quốc Bảo “Đào tạo bồi dưỡng CBQL giáo dục cho thể kỷ XXI”.
Kỷ yếu hội thảo về công tác đào tạo bồi dưỡng CBQL và công chức ngành giáo dục trong thời kỳ mới (2000) [4]; Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, “ Quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [23]; Các tác giả Đặng Xuân Hải - Nguyễn Sỹ Thư, “Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường trong bối cảnh thay đổi” [18]. Các công trình nghiên cứu trên là cẩm nang cho các nhà QLGD, quản lý nhà trường. Trong các tác phẩm nghiên cứu đó, các tác giả đã đề cập đến vai 9 z trò của đội ngũ cán bộ nhà giáo, đội ngũ cán bộ quản lý, hiệu trưởng nhà trường, đưa ra một số giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục trong bối cảnh hiện nay. Những năm gần đây đối với cấp độ luận văn thạc sỹ, đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu về công tác xây dựng, quy hoạch và phát triển CBQL giáo dục các cấp ở một số địa phương.
Tuy nhiên những nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng CBQL thì còn ít đề cập đến. Ở tỉnh Nam Định chưa có một công trình nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng đội ngũ HT trường MN. Do vậy, trong Đề tài nghiên cứu này, tác giả mong muốn đưa ra một hệ thống các biện pháp phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương trong công tác quản lý bồi dưỡng đội ngũ HT trường MN tỉnh Nam Định đáp ứng Chuẩn HT, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT. Các khái niệm cơ bản 1.
Bồi dưỡng, bồi dưỡng đội ngũ hiệu trưởng đáp ứng chuẩn 1. Bồi dưỡng Từ “bồi dưỡng” thuộc ngôn ngữ dùng thông dụng trong đời sống thường nhật. Nó được dùng với những nghĩa khác nhau, thường thì nó được dùng một trong hai trường hợp sau: - Thứ nhất: Bồi dưỡng dùng để chỉ việc làm cho cơ thể thêm khoẻ mạnh (bổ sung về vật chất - bổ chất). - Thứ hai: Bồi dưỡng dùng để chỉ việc làm cho tốt lên về phẩm chất hoặc năng lực (bổ sung về nhận thức) Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Trung tâm Ngôn ngữ Hà Nội 1992, thì bồi dưỡng, một là: Làm cho tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ.
Chẳng hạn như: Bồi dưỡng sức khoẻ; tiền bồi dưỡng (tiền cấp cho ăn, uống); hai là: làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất.