Mở đầu, 3 chương, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục. Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng CM, NV cho GV các trường THCS đáp ứng Chương trình GDPT 2018 Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng CM, NV cho GV các trường THCS thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình đáp ứng Chương trình GDPT 2018 Chương 3. Biện pháp quản lý bồi dưỡng CM, NV cho GV các trường THCS thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình đáp ứng Chương trình GDPT 2018 5 Chƣơ g 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG CHUYÊN MÔN, NGHIỆP VỤ CHO GIÁO VIÊN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổ g qua ghiê cứu vấ đề 1. Các công trình nghiên cứu về bồi dưỡng giáo viên Trong lịch sử giáo dục, bàn về bồi dưỡng GV đã được các nhà giáo dục trên thế giới trong lịch sử và hiện tại đề cập đến ở những phương diện tiếp cận, nội dung và có những giá trị cần khảo cứu, tiếp thu để triển khai ứng dụng trong tình hình mới. Nhận thức về vai trò, tính chất chuyên nghiệp trong lao động nghề nghiệp của GV, nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định tầm quan trọng của năng lực sư phạm, kỹ năng dạy học, giáo dục của GV.
Do vậy, đã có nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục nghiên cứu và cho công bố sản phẩm về bồi dưỡng GV, trong đó có thể kể đến: Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như J. Everard, Geoffrey Morris, Ian Wilson, N.Apdulinna… Trong đó các tác giả thường bàn về việc tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, sa thải và phân tích sâu về vai trò, trách nhiệm trong quá trình phát triển đội ngũ GV. Theo các tác giả, việc sử dụng và đánh giá GV được nhấn mạnh và xem là vấn đề cốt lõi để quản lý nhà trường hiệu quả. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa đề cập đến hoạt động bồi dưỡng CM, NV vì họ cho rằng các GV khi được tuyển dụng đã có trình độ cao, bởi vậy họ tự bồi dưỡng qua công việc là chính.
Bồi dưỡng thông qua tự nghiên cứu là một hình thức rất phổ biến ở các nhà trường. Tác giả Eleonora Villegas - Reimers với cuốn sách “Teacher professional development” (Phát triển chuyên môn của GV) [39] đã khẳng định: khi GV có chuyên môn tốt, với phương pháp dạy học hợp lý sẽ tác động trực tiếp đến học sinh trong quá trình học tập, tiếp thu kiến thức của học sinh. Theo tác giả Eleonora Villegas - Reimers GV học cách dạy và giáo dục để trở thành một GV giỏi không phải một sớm, một chiều mà là cả một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi mỗi GV không chỉ hình thành, phát triển các kỹ năng nghề mà còn trau dồi thêm kiến thức, kinh nghiệp từ các chuyên gia giáo dục. Theo đó, bồi dưỡng CM, NV cho GV là đòi hỏi tất yếu trong suốt thời gian công tác của mỗi GV.
6 Dựa trên lý thuyết kiến tạo (constructivism) một số tác giả (Ann Grosso de Leon; Anne Reynolds; Robert Glaser; Jegede Margaret Taplin) đưa ra quan điểm “mô thức mới về giáo dục sư phạm” cho rằng, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho GV, trước hết dựa trên nền tảng của tri thức, kỹ xảo, kỹ năng và phẩm chất, giá trị vững chắc của người GV.Colin và Malcolm J. Nicholl (2008), đã khái quát: năng lực chuyên môn (Professional Competency) là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác. Năng lực phương pháp (Methodical Competency) là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề, bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Năng lực xã hội (Social Competency) là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau với sự phối hợp cùng các thành viên khác.
Năng lực cá thể (Induvidual Competency) là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân [32, tr. Tìm hiểu, khái lược kết quả nghiên cứu trên, có thể nhận thấy tư tưởng, quan điểm chung xuyên suốt của các tác giả trên đây, thông qua các tác phẩm của họ đã khẳng định vai trò, sự cần thiết, nội dung yêu cầu về bồi dưỡng nghiệp vụ, năng lực chuyên môn, phẩm chất nhân cách cho đội ngũ nhà giáo. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu phục vụ đào tạo nguồn nhân lực và phát triển phẩm chất, năng lực cho đội ngũ GV ở các nước phát triển thể hiện quan điểm là chất lượng nguồn GV mà trước hết là CM, NV là yếu tố quyết định đến chất lượng GD ĐT bảo đảm cho việc tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Ở Việt Nam, nghiên cứu về bồi dưỡng CM, NV cho GV được các nhà khoa học, CBQL giáo dục quan tâm nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau, có thể kể đến: Tác giả Phan Văn Kha, với đề tài: “Thực trạng nghiệp vụ sư phạm GV trung cấp chuyên nghiệp và những đề xuất xây dựng chuẩn nghiệp vụ sư phạm GV trung cấp chuyên nghiệp” [24].
Đề tài đã tập trung phân tích làm rõ những vấn đề về thực trạng nghiệp vụ sư phạm của GV trung cấp chuyên nghiệp, công 7 tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho GV trung cấp chuyên nghiệp, thực trạng về đánh giá nghiệp vụ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của GV trung cấp chuyên nghiệp. Trên cơ sở đó đề xuất những nội dung cơ bản đưa vào chuẩn nghiệp vụ sư phạm của GV trung cấp chuyên nghiệp, nhằm phát triển đội ngũ GV ở các trường trung cấp chuyên nghiệp có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu đào tạo của các trường trung cấp trong bối cảnh phát triển chung của đất nước. Tác giả Trần Hùng Lượng (2003), trong luận án tiến sĩ về “Một số giải pháp bồi dưỡng nghiệp vụ, năng lực sư phạm kỹ thuật cho GV dạy nghề Việt Nam hiện nay” [26]. Luận án của tác giả đã khẳng định rõ tính chất quan trọng, quyết định của năng lực sư phạm kỹ thuật trong quá trình tổ chức đào tạo nghề và nêu các giải pháp bồi dưỡng có tính định hướng cho việc bồi dưỡng GV dạy nghề toàn quốc.
Qua nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng tác giả đưa ra một số giải pháp bồi dưỡng nghiệp vụ, năng lực sư phạm kỹ thuật cho GV dạy nghề thông qua việc xác định một số nội dung cần bồi dưỡng cho GV nghề. Tác giả Trương Đại Đức (2011) với luận án tiến sĩ về “Bồi dưỡng chuyên môn theo chuẩn nghề nghiệp cho GV thực hành các trường dạy nghề khu vực miền núi phía Bắc” [16]. Tác giả luận án đã xây dựng được bộ công cụ đánh giá năng lực dạy học của GV thực hành, gồm 3 nhóm năng lực với 30 tiêu chí đánh giá, đó là: nhóm năng lực chuẩn bị dạy thực hành (7 tiêu chí); nhóm năng lực thực hiện dạy thực hành (20 tiêu chí); nhóm năng lực đánh giá kết quả học tập (3 tiêu chí). Khảo sát, điều tra thực trạng năng lực GV thực hành và thực trạng bồi dưỡng GV thực hành các trường dạy nghề khu vực miền núi phía Bắc để tìm ra những tồn tại, những điểm yếu đã ảnh hưởng đến đào tạo nghề cần phải khắc phục.
Từ nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng, tác giả luận án đã đề xuất các biện pháp bồi dưỡng chuyên môn theo chuẩn nghề nghiệp cho GV thực hành các trường dạy nghề khu vực miền núi phía Bắc, gồm các biện pháp như: xác định nhu cầu, nội dung bồi dưỡng và lựa chọn, xây dựng chương trình bồi dưỡng GV thực hành; tổ chức bồi dưỡng chuẩn hóa GV thực hành; tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực GV thực hành; tự bồi dưỡng gắn với nghiên cứu khoa học và đánh giá kết quả bồi dưỡng. 8 Tác giả Phạm Thị Kim Anh (2016) với bài báo viết về: “Thực trạng năng lực đội ngũ GV phổ thông trung học trước yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông” [1]. Bài viết khẳng định GV là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và là yếu tố then chốt của mọi sự cải cách, đổi mới giáo dục và kết quả điều tra cho thấy, năng lực đội ngũ GV phổ thông vừa yếu vừa thiếu và chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới. Bài viết đưa ra giải pháp để bồi dưỡng cho GV nhằm đáp ứng Chương trình giáo GDDPT mới, đó là trong bồi dưỡng, đào tạo lại GV phổ thông thì Cục Nhà giáo và các trường sư phạm cần chủ động tiến hành khảo sát, đánh giá lại năng lực của người GV; đối chiếu với yêu cầu của Chương trình GDDPT mới để thấy rõ cái đang cần và đang thiếu của GV, từ đó xác định nội dung cần bồi dưỡng cho GV và xây dựng các chương trình bồi dưỡng cho sát hợp với nhu cầu thực tiễn… Tác giả Nguyễn Văn Y (2017), với bài viết “Bồi dưỡng năng lực sư phạm cho GV nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông” [36].
Bài báo khẳng định việc bồi dưỡng năng lực phải có độ mềm dẻo nhất định bên cạnh phần cứng quy định chung cho cả nước ở các loại hình bồi dưỡng; về phương pháp là GV tự học, tự phát triển với sự giúp đỡ của tổ, nhóm chuyên môn, đồng nghiệp và giảng viên ở các trường sư phạm; về hình thức là đa dạng hoá các hình thức, lấy tự học của GV làm chính, kết hợp với nghiên cứu, thử nghiệm khoa học, cùng học tập với đồng nghiệp và hướng dẫn của chuyên gia. Tác giả Đậu Thị Hòa (2018), với bài: “Bồi dưỡng chuyên môn theo chuẩn nghề nghiệp cho GV THCS theo hướng phát triển năng lực học sinh” [22]. Bài báo khẳng định, GV là lực lượng nòng cốt tham gia và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh phát triển về trí tuệ, hiểu biết và nhân cách con người. Vì vậy, mỗi GV phải là một tấm gương sáng về đạo đức và tự học, cần bồi dưỡng cho mình các năng lực cơ bản để thực hiện nhiệm vụ dạy học tốt nhất, hiệu quả nhất.
Qua tổng quan một số công trình khoa học bao gồm sách, đề tài, luận án cho thấy vấn đề bồi dưỡng GV đã được nghiên cứu ở các góc độ khác nhau. Tuy nhiên, các nghiên cứu đó đa phần đều ở dạng nghiên cứu vĩ mô, khái quát, mang tính tổng thể chưa đi sâu để giải quyết các yêu cầu cụ thể, cần thiết về quản lý hoạt động bồi dưỡng theo chuẩn nghề nghiệp cho GV THCS.