CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiện nay có nhiều tài liệu nghiên cứu về hiện trạng khai thác thủy sản ở Việt Nam và tỉnh Quảng Ninh, điển hình là nghiên cứu “Tổng quan nguồn lợi thủy sản, chiến lược và chính sách phát triển ngành thủy sản Việt Nam” của tác giả Nguyễn Duy Chinh (2008) và “Đề án tổng thể phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn 2030” của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Ninh (2014). Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Chinh chỉ ra, giai đoạn 1990 – 2007 số lượng tàu thuyền lắp máy đánh bắt thủy sản và công suất tàu thuyền ngày càng tăng theo tỷ lệ thuận với thời gian, trong đó lượng tàu thuyền đánh bắt xa bờ luôn chiếm tỷ lệ không cao nhưng có xu hướng tăng dần theo thời gian, bên cạnh đó sản lượng khai thác ngày càng tăng trong khi năng suất bình quân theo công suất ngày càng giảm. Tại Đề án phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Quảng Ninh nêu rõ, trong thời gian 5 năm (2008 – 2013) cơ cấu tàu thuyền khai thác thủy sản của tỉnh Quảng Ninh chưa hợp lý với trên 70% là tàu thuyền nhỏ ven bờ, cơ cấu nghề nghiệp chuyển đổi chậm, chưa giải quyết tốt bài toán lợi ích kinh tế khai thác đi đôi với bảo vệ nguồn lợi thủy sản, vẫn còn hiện tượng đánh bắt trái phép xảy ra, năng suất khai thác thủy sản có tăng nhưng giá trị chưa cao và chủ yếu là do việc tăng cường độ khai thác.
Ngoài những nghiên cứu mang tính chất tổng quan, có nhiều công trình nghiên cứu về hiệu quả khai thác nguồn lợi thủy sản. Theo luận văn Thạc sĩ “Một số giải pháp phát triển bền vững nghề khai thác thủy sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” của tác giả Lê Văn Ninh (2006), nguồn lợi thủy sản ở vùng ven biển gần bờ đã có dấu hiệu suy giảm mạnh trong khi đó nguồn lợi thủy sản xa bờ ở các vùng nước truyền thống cũng đã bị suy giảm ở một số loài. Nghiên cứu này còn cho thấy sản lượng khai thác và cường lực thực tế ở Bà Rịa – Vũng Tàu đã vượt quá ngưỡng bền vững 5 làm suy giảm nguồn lợi vùng biển gần bờ. Trong khi đó, luận văn Thạc sĩ “Giải pháp phát triển khai thác hải sản xa bờ của thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Ngọc Oai (2011) cũng có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu của tác giả Lê Văn Ninh.
Nghiên cứu này kết luận rằng số lượng và công suất tàu cá hàng năm tại Đà Nẵng đều tăng. Tuy nhiên số lượng tàu cá có công suất nhỏ (<20CV) và hoạt động ven bờ vẫn chiếm tỷ lệ cao (56,4%). Cường lực khai thác tăng nhưng hiệu quả khai thác giảm mạnh so với năm 2007. Nghiên cứu “Hiện trạng khai thác và quản lý nguồn lợi hải sản ở tỉnh Sóc Trăng” của tác giả Trịnh Kiều Nhiên và Trần Đắc Định (2012) cho thấy trong giai đoạn 2005 – 2011 số lượng tàu khai thác giảm 4%, trong khi sản lượng khai thác tăng 43,5%.
Sản lượng khai thác tăng là do công suất máy tàu tăng 82%. Tuy nhiên, sản lượng trên một đơn vị khai thác (CPUE) lại giảm 38,2%, điều đó cho thấy nguồn lợi thủy sản đang bị suy giảm nghiêm trọng. Tại một nghiên cứu khác, nghiên cứu “Thực trạng và một số giải pháp trong khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản ở tỉnh Tiền Giang” của tác giả Nguyễn Trọng Tuy và cộng sự lại chỉ ra rằng số tàu khai thác tại Tiền Giang có được lợi nhuận chiếm 83,62%, trong đó tàu khai thác ven bờ có tỷ lệ lỗ và mức lỗ nhiều hơn tàu khai thác xa bờ trong khi tàu khai thác xa bờ đòi hỏi chi phí đầu tư cao hơn cũng như mức độ rủi ro nhiều hơn. Để duy trì sản lượng khai thác bền vững tối đa, nhiều nghiên cứu đã chứng minh cần cắt giảm cường lực khai thác.
Tuy nhiên, mức cường lực cần cắt giảm của các nghiên cứu đưa ra là khác nhau. Nghiên cứu của tác giả Thái Ngọc Chiến (2009) chỉ ra nguồn lợi hải sản ven bờ đã bị khai thác quá mức và cường lực khai thác cần giảm khoảng hơn 30% để duy trì sản lượng khai thác bền vững tối đa. Đối với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Kháng (2011) số lượng tàu thuyền khai thác ở khu vực miền Trung cần cắt giảm đến 38% để duy trì sản lượng khai thác bền vững tối đa. Theo luận văn Thạc sĩ “Khai thác hải sản ở tỉnh Quảng Bình theo hướng bền vững” của tác giả Lê Văn Lợi (2014), năm 2013 tại vùng ven bờ và vùng lộng số lượng tàu khai thác là 2.791 tàu đã vượt mức cường lực khai thác cho phép (1.692 tàu) để đem lại sản lượng bền vững tối đa.
Trong khi đó tại vùng biển xa bờ, 6 số lượng tàu khai thác chỉ là 1.073 tàu lại thấp hơn mức cường lực khai thác cho phép (1.168 tàu) để đem lại sản lượng bền vững tối đa. Giải pháp phát triển bền vững là cần giảm số lượng tàu khai thác ven bờ và vùng lộng; phát triển đội tàu có công suất lớn khai thác xa bờ. Và trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Viết Thành (2011), cường lực khai thác nghề lưới kéo tôm ở khu vực Vịnh Bắc Bộ cũng cần giảm từ 46% đến 61% để duy trì mức lợi nhuận kinh tế tối đa (MEY). Những chỉ số đánh giá tính bền vững quan trọng của nghề cá biển cần được xác định là cường lực khai thác và sản lượng khai thác bền vững tối đa (MSY).
Trong đó, MSY là điểm tham chiếu sự phát triển bền vững về sản lượng khai thác, trở thành tiêu chuẩn quốc tế (FAO, 1999). Để xác định ngưỡng cường lực khai thác tối đa chúng ta có thể sử dụng nhiều phương pháp tính toán khác nhau như công thức Gulland (1983), DEA (1978), Schaefer (1954), Fox (1970). Nhưng tùy thuộc vào điều kiện, mục đích nghiên cứu để lựa chọn công thức sử dụng cho phù hợp. Công thức Gulland (1983) là công thức sử dụng các tiếp cận sinh học quần thể làm cơ sở để xây dựng dựa trên sản lượng thặng dư của quần thể.
Tuy nhiên, công thức Gulland (1983) thường chỉ dùng để tính sản lượng khai thác tối đa cho những quần thể chưa khai thác, còn với Schaefer (1954) và Fox (1970) được dùng để tính cho những quần thể đang bị khai thác. Không những vậy, hai mô hình này cũng sử dụng trong đánh giá nghề cá đa loài bằng việc xác định sản lượng khai thác tối đa cho từng loại trong cùng phạm vi rồi chọn lấy giá trị an toàn. Nguồn số liệu sử dụng trong mô hình này chủ yếu là số liệu phụ thuộc nghề cá như năng suất khai thác, sản lượng khai thác, cường lực khai thác … Những số liệu này dễ dàng thu thập được từ các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành hoặc từ điều tra thực tế. Với những số liệu nêu trên và trong điều kiện hoàn cảnh nước ta hiện nay, việc áp dụng mô hình toán của Schaefer (1954) và Fox (1970) tính toán MSY và fMSY trong đề tài là hoàn toàn hợp lý về mặt khoa học và thực tiễn.
Tuy nhiên, mô hình này dựa trên những các tiếp cận sinh học quần thề và nghề cá nước ta là đa nghề nên nhìn chung bài toán được đặt ra là khá phức tạp. Để có thể tính toán sản 7 lượng khai thác bền vững tối đa và cường lực khai thác tối ưu làm cơ sở khoa học cho việc điều chỉnh cường lực khai thác của các đội tàu, ngoài việc sử dụng các mô hình này cho từng loài được lựa chọn, việc chuẩn hóa cường lực khai thác là vô cùng cần thiết. Nhìn chung, các công trình đã nghiên cứu ở các góc độ, địa bàn khác nhau với những phương pháp khác nhau, đã tập trung phân tích, đánh giá thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến sự bền vững về thủy sản nói chung và lĩnh vực khai thác thủy sản nói riêng để từ đó đề ra các giải pháp phù hợp, tối ưu. Các kết quả nghiên cứu trên có một số nội dung có giá trị, phù hợp với đặc điểm, thực trạng khai thác thủy sản hiện nay mà tỉnh Quảng Ninh có thể vận dụng.
Và theo tìm hiểu thực tiễn của tác giả đến nay chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về quản lý bền vững trong hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Đề tài mà tác giả lựa chọn nghiên cứu không trùng với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã được công bố trước đó. Trong luận văn này, tác giả có kế thừa thành quả nghiên cứu của các công trình nêu trên, kết hợp với việc thu thập số liệu thực tế, đi sâu nghiên cứu làm rõ thực trạng, nguyên nhân các tồn tại, hạn chế trong lĩnh vực khai thác thủy sản của tỉnh Quảng Ninh, từ đó tìm giải pháp quản lý năng lực khai thác, tăng số lượng tàu cá xa bờ, giảm số lượng tàu cá ven bờ; chuyển dịch từ nghề khai thác hiệu quả thấp, gây cạn kiệt nguồn lợi sang nghề hiệu quả cao, thân thiện với môi trường; cải tiến công nghệ khai thác, công nghệ bảo quản sau thu hoạch trên tàu; nâng cao trình độ và thu thập của lao động; giảm thiểu rủi ro, tai nạn trong khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Những vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động khai thác thủy sản theo hướng bền vững 1.
Các khái niệm: Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WECD) của Liên Hợp Quốc “Phát triển bền 8 vững” được định nghĩa “là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Qua nghiên cứu Bách khoa thủy sản của Hội Nghề cá Việt Nam (2007) có thể đưa ra khái niệm khai thác thủy sản theo hướng bền vững, đó là khai thác một phần nguồn lợi có sẵn, sao cho phần còn lại trong chu trình một năm có thể sinh sản và khôi phục lại đàn như trạng thái ban đầu.