Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nhận thức về quản lý, bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng 1. Khái niệm về quản lý, bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng Nhiều năm trở lại đây khái niệm cộng đồng được biết đến nhiều và cũng có nhiều định nghĩa về nó, được sử dụng nhiều trong các công trình nghiên cứu, ngày đi đến thống nhất về ngôn ngữ và nội dung. Khái niệm cộng đồng địa phương là nhóm người cùng sống trên một khu vực và thường cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hội chung và hoặc có quan hệ gia đình với nhau (theo Darcy Davis Case 1990).
Nguyễn Hồng Quân (2000) thì cho rằng “Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống trong một xã hội có những đặc điểm giống nhau và có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau” Phạm Xuân Phương (2001) tại Hội thảo Quốc gia trong khuôn khổ chính sách hỗ trợ quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam” được tổ chức ở Hà Nội thì quan điểm rằng “Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống thành một xã hội, có những điểm tương đồng về mặt văn hoá truyền thống, có mối quan hệ sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và thường có ranh giới không gian trong một làng, bản” [23]. Giáo Sư Lê Quý An, thì cho rằng cộng đồng được định nghĩa là nhóm người sống cùng một địa phương hoặc dưới sự quản lý của cùng một chính quyền địa phương. Mặc dù có những quan niệm khác nhau về cộng đồng, nhưng phần lớn các ý kiến đều cho rằng "cộng đồng" được dùng trong quản lý rừng chính là nói đến cộng đồng dân cư thôn. Khái niệm này cũng được định nghĩa một cách đầy đủ tại Điều 3 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 “Cộng đồng dân cư thôn bản là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương” [26].
download by : skknchat@gmail.com 4 Từ các quan niệm, khái niệm của các nhà khoa học về cộng đồng trên có thể được tóm lược lại là: Cộng đồng có thể là cộng đồng dân cư thuộc làng, bản, cộng đồng dòng tộc, dòng họ, các nhóm người những đặc điểm và lợi ích chung và cùng phục vụ cho một ý tưởng chung. Ở phạm vi nghiên cứu của đề tài này, cộng đồng được hiểu theo nghĩa là cộng đồng thôn, xóm, làng, bản (kể cả các tổ chức đoàn thể trong cộng đồng). QLBVR trên cơ sở cộng đồng là QLBVR mà huy động được chính nội lực của cộng đồng cho các hoạt động chống chặt, phá, lấn chiếm rừng, đất rừng, khai thác lâm sản, săn, bắt, bẫy động vật rừng trái phép, phòng cháy chữa cháy rừng. Phòng trừ sinh vật gây hại rừng, bảo vệ hệ sinh thái rừng, thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý rừng và quản lý lâm sản.
Những giải pháp QLBVR trên cơ sở cộng đồng được đưa ra luôn hàm chứa về bản chất của phong tục, luật tục, tập quán, ý thức dân tộc, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, các tổ chức đoàn thể, làng, bản phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước. Khái niệm về cộng đồng tham gia QLBVR Cộng đồng tham gia quản lý rừng cũng có thay thế bằng cụm từ là Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ) (PGS. Nguyễn Duy Chuyên, Vũ Nhâm, Hansson (2002), Phát triển lâm nghiệp cộng đồng ở miền núi phía Bắc, Việt Nam. NXB Thanh Niên, Hà Nội) [6].
Quan điểm về LNCĐ không chỉ giới hạn trong việc trồng cây rừng trang trại, khu nhà ở hay ven đường mà còn cả tập quán du canh, việc sử dụng quản lý rừng tự nhiên và việc cung cấp các sản phẩm cây trồng từ nhiều nguồn khác nhau. Trên thế giới quản lý rừng cộng đồng đã có lịch sử hình thành và phát triển từ lâu và có đóng góp ở các mức độ khác nhau đối với việc quản lý rừng của từng nước. Trong những năm qua đã có nhiều nghiên cứu về rừng cộng đồng, quản lý rừng cộng đồng, v. ở từng nước cũng như trên phạm vi quốc tế.
Năm 1978, tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc - FAO đã định nghĩa về lâm nghiệp cộng đồng là "Bất cứ hình thức nào mà thu hút người dân download by : skknchat@gmail.com 5 địa phương tham gia vào các hoạt động lâm nghiệp gọi là lâm nghiệp cộng đồng. Khái niệm này bao gồm các hoạt động lâm nghiệp rộng rãi như việc trồng rừng tại các vùng nhất định mà ở đó người dân địa phương thiếu gỗ và các sản phẩm khác phục vụ cho nhu cầu của mình; Trồng cây ở mức độ trang trại để thu hoạch các sản phẩm từ cây trồng; Chế biến gỗ và các sản phẩm khác từ cây để cung cấp thức ăn, và tăng thu nhập; Tạo nguồn thu nhập bằng việc cung cấp các sản phẩm để sản xuất đồ thủ công hoặc cho các xưởng chế biến nhỏ v. Nó bao gồm một tỷ lệ lớn các hoạt động về công nghiệp rừng và các hoạt động khác của lâm nghiệp góp phần vào sự phát triển của cộng đồng thông qua giải quyết việc làm và tăng thu nhập, tuy nhiên nó không bao gồm các xí nghiệp, công ty công nghiệp rừng và những hoạt động dịch vụ lâm nghiệp công cộng, những hoạt động này khuyến khích hoặc giúp đỡ những hoạt động lâm nghiệp ở mức độ cộng đồng". Theo Arnold (1992) lâm nghiệp cộng đồng là:" Một thuật ngữ chung mô tả các hoạt động gắn bó người dân nông thôn với rừng và cây cũng như với các sản phẩm và lợi ích bắt nguồn từ rừng và cây.
Nếu có một mặt nào đó cần được nhấn mạnh hơn cả thì đó là phạm vi và tính đa dạng của mối liên kết này, và các lĩnh vực khác nhau liên quan tới các khía cạnh của lâm nghiệp cộng đồng. Do vậy, lâm nghiệp cộng đồng không phải là một mảng riêng biệt hay một chương trình mà là một mặt của lâm nghiệp, nông nghiệp, năng lượng nông thôn và các hợp phần khác của phát triển nông thôn". Từ một số khái niệm trên đây cho thấy lâm nghiệp cộng đồng có nghĩa là sự tham gia của người dân vào các hoạt động sản xuất lâm nghiệp như trồng, bảo vệ rừng, chế biến lâm sản v. và các hoạt động này cũng đã mang lại lợi ích trực tiếp, đáp ứng các nhu cầu của người dân v.
Quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam đã được nhiều tổ chức và cá nhân trong nước và quốc tế nghiên cứu trong thời gian gần đây quan tâm nghiên cứu và đã có nhiều khái niệm được sử dụng: Theo tài liệu Thuật ngữ lâm nghiệp - Vụ khoa học công nghệ - Bộ Lâm nghiệp, 1996 đã định nghĩa lâm nghiệp cộng đồng như sau: "Lâm nghiệp cộng đồng download by : skknchat@gmail.com 6 là một dạng của lâm nghiệp xã hội, trong đó các nhóm người có chung một mục đích tham gia vào việc quản lý hay cùng hưởng lợi của rừng trên đất Nhà nước đã giao cho quyền sử dụng, có tính đến lợi ích của cộng đồng và của Nhà nước". Luật đất Đai mới, đã có những quy định cụ thể liên quan đến cộng đồng và tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho lâm nghiệp cộng đồng phát triển, đã xác định: "Các cộng đồng dân cư bao gồm cộng đồng người Việt Nam cư trú trong cùng một làng xóm hoặc nơi cư trú tương tự với các truyền thống, phong tục giống nhau hoặc trong cùng một đại gia đình đã được giao đất hoặc là những người đang sử dụng đất và đã được Nhà nước công nhận về quyền sử dụng đất". Luật Bảo vệ và phát triển rừng (2004) đã đưa ra khái niệm Cộng đồng dân cư thôn như sau: "Cộng đồng dân cư thôn gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, bản, ấp, buôn, phun, sóc và các điểm dân cư tương đương có cùng phong tục tập quán hoặc có chung dòng họ được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất". Như vậy các khái niệm về cộng đồng đã từng bước làm rõ đối tượng để áp dụng việc giao đất, giao rừng để quản lý sử dụng có sự đồng nhất tương đối về mặt địa lý và dân tộc, cũng như các mối quan hệ xã hội được xác định.
Các khái niệm của Việt Nam và quốc tế không có sự khác biệt nhiều. Các khái niệm về quản lý rừng cộng đồng của Việt Nam đã xác định đối tượng chủ yếu là thôn, bản hoặc nhóm người tương đương cùng chung mục đích trong các hoạt động sản xuất lâm nghiệp. Chính sách Nhà nước đối với QLBVR trên cơ sở cộng đồng Tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam đã là yếu tố quan trọng tạo nên cơ sở cho những thành quả đã đạt được trong công cuộc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Vì vậy, vấn đề phát huy vai trò của các cộng đồng để quản lý nguồn tài nguyên này là vấn đề vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống, vừa có thể tạo ra một cách quản lý tài nguyên có hiệu quả hơn, bền vững hơn, phù hợp với những xu hướng phát triển của thế giới [25].
Chính những cộng đồng địa phương là những người hiểu biết sâu sắt nhất về tài nguyên thiên nhiên nơi họ sinh sống, về cách thức giải quyết những mối quan hệ kinh tế - xã hội trong cộng đồng của họ. Họ biết, phát triển download by : skknchat@gmail.com 7 những loài cây trồng, vật nuôi cho hiệu quả cao và bền vững trong hoàn cảnh sinh thái của địa phương. Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng được xây dựng dựa trên cơ sở phong tục tập quán của người dân địa phương. Có những phong tục tập quán phù hợp với yêu cầu của quản lý rừng bền vững tài nguyên rừng.
Nhưng cũng có những phong tục tập quán ngược lại với yêu cầu của quản lý bền vững tài nguyên rừng. Vì vậy, quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng phải hướng vào phát huy được những luật tục và phong tục tập quán có lợi, giảm dần những phong tục tập tác động tiêu cực đến hoạt động quản lý bền vững tài nguyên. Tuy nhiên, luật tục, phong tục, tập quán, nhận thức, kiến thức bản địa của người dân không phải là bất biến. Chúng luôn luôn có sự thay đổi cùng sự tiến bộ xã hội.
Vì vậy, những giải pháp QLBVR trên cơ sở cộng đồng đưa ra không chỉ phù hợp với nhận thức và kiến thức của người dân mà còn có khuynh hướng làm thay đổi chúng theo một chiều hướng có lợi cho hoạt động quản lý bền vững tài nguyên [27].