đặt vấn đề nghiên cứu về mối quan hệ Việt – Thái dưới góc nhìn của chủ nghĩa tự do vẫn còn khá mới. Vì vậy, học viên hy vọng rằng đề tài luận văn “Quan hệ Việt Nam – Thái Lan theo góc nhìn của chủ nghĩa tự do (2006-2015)” sẽ góp một phần nhỏ bé 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhưng mới mẻ về quan hệ ngoại giao giữa hai nước nói riêng và quan hệ trong khu vực nói chung. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 1) Đối tượng nghiên cứu - Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ 2006 – 2015 2) Phạm vi nghiên cứu Về góc độ lý luận, luận văn tập trung nghiên cứu theo các luận điểm chính của lý thuyết chủ nghĩa tự do. Về thời gian, luận văn sẽ trình bày thực trạng phát triển của mối quan hệ này trong giai đoạn 2006-2015.
Về mặt nội dung, luận văn nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Thái Lan trên tất cả các lĩnh vực như chính trị, ngoại giao, an ninh quân sự và kinh tế. Thêm vào đó là những nhận định, đánh giá của học viên đối với triển vọng quan hệ của hai nước, những tác động của mối quan hệ đối với khu vực và thế giới. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là: 1) Nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan dưới góc nhìn của chủ nghĩa tự do. 2) Tìm ra ý nghĩa của chủ nghĩa tự do trong mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan.
3) Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác những mặt tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực từ quan hệ Việt - Thái. Phƣơng pháp nghiên cứu Mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan dưới góc nhìn của chủ nghĩa tự do cũng là một hiện tượng quan hệ quốc tế. Vì vậy, để nghiên cứu đối tượng này, bên cạnh việc sử dụng các phương pháp trên, học viên đã kết hợp các cách tiếp cận như: các cấp độ phân tích quan hệ quốc tế, lý thuyết về chủ nghĩa tự do, các lý thuyết về hợp tác và hội nhập, lý thuyết về nguyên nhân xung đột quốc tế, quan điểm về hệ thống quốc tế, các quan điểm về chủ thể và lợi ích trong quan hệ quốc tế. Mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ xưa đến nay là một hiện tượng xã hội mang tính quá trình.
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này được dựa trên các phương 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp nghiên cứu cơ bản như: phương pháp lịch đại, đồng đại, logic – lịch sử, so sánh lịch sử, phương pháp hệ thống cấu trúc. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Nguồn gốc và các luận điểm của lý luận quan hệ quốc tế chủ nghĩa tự do 1. Chủ nghĩa tự do cổ điển - Chủ nghĩa lý tưởng: từ Kant đến Wilson Phong trào khai sáng bắt đầu từ thế kỉ 18 là một cuộc cách mạng tư tưởng quan trọng trong lịch sử văn minh thế giới.
Trong quá trình cách tân, một nhóm các nhà tư tưởng luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa lý trí (rationalism), họ tiến hành phê phán mạnh mẽ đối với sự suy đồi của “chế độ cũ” ở Châu Âu với đại diện là chủ nghĩa chuyên chế và tôn giáo thần quyền. Chủ nghĩa lý trí và tư tưởng tôn trọng con người mang đến sức mạnh như một dòng nước lũ đã tẩy sạch những tư tưởng cố hữu nằm sâu trong tâm trí con người từ vài trăm năm trước đó. Và đến thời đại này con người dường như đã tiến thêm một bước phát triển trí tuệ của bản thân. Đúng giống như lời nhà triết học nước Đức Immanuel Kant đã nói, đây chính là thời đại “mang tới ánh sáng chiếu rọi những góc khuất tối tăm trong tư tưởng con người”.
[45] Dù cho trong quá trình khai sáng, đại bộ phận các nhà tư tưởng đều xuất phát từ góc độ của chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa lý trí để nghiên cứu những vấn đề triết học thông thường, nhưng cũng có một vài nhà tư tưởng đã tiến hành nghiên cứu và suy ngẫm sâu sắc hơn đối với thể chế chính trị quốc tế và trật tự thế giới trên cơ sở triết học cơ bản này. Những nghiên cứu này là gốc rễ trực tiếp của lý luận quan hệ quốc tế về Chủ nghĩa lý tưởng và Chủ nghĩa tự do sau này. Những nhân vật đại diện khai sáng cho tư tưởng Chủ nghĩa tự do gồm có: John Locke, Jean-Jacques Rousseau và Kant. Những nhà tư tưởng này đã thiết lập một số nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa tự do.
Khác với chủ nghĩa ngu dân và thần quyền ở giữa thế kỷ, họ cho rằng: lý trí là một tư chất bẩm sinh tự nhiên và duy nhất chỉ có ở loài người. Lý trí của cá nhân có mục đích là tự mình thực hiện, đây cũng là một loại “trạng thái tự nhiên” của con người. Còn quốc gia cũng chỉ là sản phẩm của “khế ước” được thiết lập giữa những cá thể khác nhau trong xã hội, và nó phục vụ mục đích duy nhất là 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bảo đảm quyền lợi tự nhiên mà con người được xây dựng dựa trên cơ sở hợp tình, hợp lý. Trong những nhà tư tưởng vĩ đại này, Kant là người có ảnh hưởng lớn nhất đến sự phát triển sau này của lý luận quan hệ quốc tế.
Trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa tự do phương Tây, tư tưởng của Kant đóng một vai trò quan trọng trong việc kế thừa những cái có trước và là tiền đề cho những cái ra đời sau. Khác với quan niệm tự do cá nhân tiêu cực trong quan điểm tự do tuyệt đối (Perfect freedom) của John Locke; trong quan niệm của Kant, cái mà quan niệm tự do cá nhân nhấn mạnh là sự tham gia tích cực của cá nhân đối với đời sống chính trị. Hoặc có thể nói, con người là tự do, họ có thể lập ra những tiêu chuẩn pháp luật riêng cho hành vi của mình. Chính phủ phải bảo vệ cho an toàn và phúc lợi của cá nhân dựa trên nguyên tắc pháp luật và chính nghĩa.
Trái ngược với Machiavelli, Kant cho rằng cá nhân không phải là “thủ đoạn” mà phải là “mục đích”. Quan điểm tích cực của tự do cá nhân là hạt nhân trong tất cả tư tưởng triết học chính trị của Kant. Trên phương diện triết học chính trị quốc tế, Kant cho rằng, chiến tranh giữa các quốc gia mang đến tổn thất vô cùng nặng nề, sự phát triển của xã hội công dân và lý trí loài người, cuối cùng sẽ khiến cho quan hệ giữa các quốc gia từ trạng thái riêng lẻ tự nhiên quá độ đến trạng thái pháp chế, từ đó thực hiện mục tiêu “hòa bình vĩnh cửu”. Tư tưởng hòa bình vĩnh cửu của Kant có ảnh hưởng trực tiếp đến lý luận quan hệ quốc tế sau đó là chủ nghĩa tự do cộng hòa, và cũng ảnh hưởng trực tiếp tới sự ra đời và phát triển của lý luận hòa bình dân chủ.
Và trước khi nổ ra trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tư tưởng quốc tế phát huy sức ảnh hưởng quan trọng nhất trong lĩnh vực chính trị quốc tế lúc đó là lý luận cân bằng quyền lực (The Balance of power theory). Các nhà chính trị học Châu Âu lấy Metternich và Bismarck làm đại diện đã trở thành những đại sứ duy trì cán cân quyền lực Châu Âu, họ cố gắng thông qua quan hệ liên minh mật thiết phức tạp để bảo vệ lợi ích quốc gia và duy trì hòa bình Châu Âu. Nhưng sự bùng nổ tàn bạo của chiến tranh thế giới lần thứ nhất vô tình đã tạo ra một sự mỉa mai lớn đối với những nỗ lực này. Vì vậy, một số nhà chính trị và học giả thời đó đã suy nghĩ lại một cách sâu sắc về lý trí của loài người, hi vọng thoát khỏi bi kịch đáng buồn của 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lý luận cân bằng quyền lực này, điều này trực tiếp thúc đẩy sự ra đời của tư tưởng quan hệ quốc tế mang ý nghĩa hiện đại hơn là chủ nghĩa lý tưởng.
Từ những năm 20, 30 của thế kỷ 20, những đại diện tiêu biểu của lý luận quan hệ quốc tế Chủ nghĩa lý tưởng hiện đại chủ yếu có tổng thống Mỹ kiêm học giả Woodrow Wilson, JohnMurray, Parker TMoon, học giả người Anh Alfred Ezimmern, Philip Noel Baker và David Mitrany …. Chủ nghĩa lý tưởng phủ nhận quan điểm cho rằng bản chất cái ác trong con người là nguồn gốc dẫn đến chiến tranh và xung đột giữa các quốc gia của chủ nghĩa hiện thực. Alfred Ezimmern cho rằng bản tính của con người không có cái gì là thiện hay ác, quan trọng nó được quyết định bởi sự giáo hóa sau này. Chiến tranh xảy ra không phải vì con người thiếu quan niệm về cộng đồng quốc tế, mà là vì sự hạn chế về kiến thức khiến họ chưa ý thức được điều này [29].
Giống như Wilson đã nói “thiện ác lẫn lộn, vàng thỏi cũng bị ăn mòn”. Cũng có thể nói rằng, dù bản tính của con người tồn tại sự ngu muội và vô tri, những kẻ độc tài có thể lợi dụng điểm yếu này để thực hiện dã tâm của bản thân, nhưng sức mạnh của giáo dục và tuyên truyền có thể khắc phục được điểm cực đoan này. Vì vậy, những người theo Chủ nghĩa lý tưởng vô cùng coi trọng sự giáo hóa đối với quần chúng nhân dân. Đồng thời, sự giao lưu qua lại giữa nhân dân thế giới cũng giúp cho nhận thức lý trí và trí tuệ của con người được phát huy một cách toàn diện, qua đó hình thành quan niệm về thể cộng đồng thế giới và tinh thần chủ nghĩa quốc tế, từ đó loại bỏ những nguyên nhân cơ bản của chiến tranh.
Trên lĩnh vực chính trị quốc tế, tư tưởng cơ bản của Chủ nghĩa lý tưởng là dựa vào sức mạnh của tổ chức quốc tế và pháp luật quốc tế để theo đuổi công lý và hòa bình lâu dài của xã hội quốc tế. Điều này được tập trung thể hiện trong phương án “Mười bốn điểm” của Wilson về sự sắp xếp sau hậu chiến, và thành quả trực tiếp của phương án này chính là sự thành lập của liên minh quốc tế. Với vai trò vừa là nhà chính trị vừa là học giả của mình đã giúp Wilson có thể thực hiện được phương án hòa bình theo Chủ nghĩa lý tưởng của mình. Ngày 08/01/1918 trong quá trình diễn thuyết tại quốc hội Mỹ, Wilson đã lần đầu tiên đưa ra kế hoạch “Mười bốn điểm” để làm cương lĩnh cơ bản tạo nên hòa bình thế giới sau chiến tranh.
Nhắm 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.