Chương I: Tổng quan về mối quan hệ Việt Nam- Mê-hi-cô những năm đầu thế kỷ 21 cũng như tác động của bối cảnh quốc tế tới mối quan hệ của hai nước,từ đó thấy được như cầu phát triển quan hệ song phương của Việt Nam và Mê-hi-cô trong thời gian tới. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Chương II: Tổng hợp và phân tích mối quan hệ giữa Việt Nam và Mê-hi-cô trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa- xã hôi… - Chương III: Từ những phân tích, tổng hợp về tình hình hợp tác song phương giữa Việt Nam và Mê-hi-cô trong các lĩnh vực cụ thể, từ đó đánh giá về triển vọng và đưa ra những kiến nghị, giải pháp để thúc đẩy mối quan hệ hai nước trong tương lai. Ngoài ra, luận văn còn có các Bảng, Biểu đồ và Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUAN HỆ VIỆT NAM- MÊ-HI-CÔ NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI 1.1 Quan hệ Việt Nam – Mê-hi-côtrƣớc thế kỷ 21 1.1 Quan hệ Việt Nam- Mê-hi-côtrước năm 1975 Quan hệ giữa Việt Nam và Mê-hi-cô trong thời kỳ trước 1975 rất hạn chế do đặc thù tình hình quốc tế và của mỗi nước.
Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là chính trong giai đoạn này đã bước đầu hình thành những nhân tố quan trọng làm nền tảng cho quan hệ giữa hai nước trong tương lai. Mê-hi-cô là quốc gia đông dân thứ hai ở Mỹ La-tinh và có quan hệ với nhiều quốc gia trên thế giới. Nhưng Mê-hi-cô xa cách Việt Nam nửa vòng trái đất. Trong điều kiện chính trị và kỹ thuật của thế giới nửa sau thế kỷ 20, đây rõ ràng là trở ngại đáng kể cho quan hệ giao lưu giữa hai quốc gia, chưa kể đến đặc thù của mỗi nước trong thời kỳ đó.
Thế giới sau Thế chiến II bị bao trùm bởi không khí chiến tranh lạnh. Lo ngại sự phát triển của các phong trào cách mạng trên khắp thế giới, Đế quốc Mỹ tìm mọi cách cô lập các nước xã hội chủ nghĩa và các chính phủ tiến bộ với thế giới còn lại. Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam càng làm cho sự phát triển quan hệ bình thường giữa Mê-hi-cô và Việt Nam thêm khó khăn. Trong điều kiện nêu trên, trước 1975 hai nước không có quan hệ ngoại giao chính thức.
Phía Việt Nam tập trung vào cuộc kháng chiến chống Pháp rồi Mỹ để thống nhất đất nước. Quan hệ chính thức của Việt Nam lúc đó mới chỉ tập trung với các nước xã hội chủ nghĩa, ngoài ra chỉ với một số rất ít các nước khác tại châu Á. Đối với Việt Nam, ngay từ khi đất nước Việt Nam còn chìm trong lửa đạn của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc, chính phủ Mê-hi-côđã thể hiện thiện cảm sâu sắc với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Phong trào nhân dân Mê-hi-côđoàn kết, ủng hộ Việt Nam 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chống xâm lược phát triển mạnh và sâu rộng.
Chính phủ Mê-hi-cô, trước sức ép nặng nề của Mỹ, khó có thể thiết lập quan hệ với miền Bắc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chủ trương của Mê-hi-cô là đứng trung lập trong vấn đề công nhận ngoại giao đối với Việt Nam. Mặt khác, chính phủ Mê-hi-cô tránh theo đuôi Mỹ trong vấn đề Việt Nam. Về phần Việt Nam lúc đó chúng ta đang ở trong cao trào của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Trước là cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp xâm lược, bảo vệ nền độc lập mới giành được. Sau là cuộc chiến tranh gian khổ kéo dài chống xâm lược Mỹ. Việc đất nước tạm thời chia làm hai miền sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 cũng gây khó khăn cho việc các nước công nhận ngoại giao ta. Tuy nhiên cuộc đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập của Việt Nam đã trở thành ngọn đuốc sáng soi rọi thế giới, thành “lương tri thời đại”.
Chiến lược của ta hết sức tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng là nhân tố rất quan trọng tác động vào thái độ của nhân dân các nước. Cuộc đấu tranh này có tác động sâu sắc tới Mê-hi-cô và đặt nền tảng thuận lợi cho quan hệ giữa Việt Nam và Mê-hi-cô sau này. Phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam có tác động rất mạnh mẽ tới thế giới Mỹ La-tinh. Vốn đều trải qua một cuộc chiến tranh giải phóng chống sự đô hộ của đế quốc Tây Ban Nha, sau đó là cuộc đấu tranh chống sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ và chống các chế độ phản động độc tài được Mỹ ủng hộ, nhân dân các nước Mỹ La-tinh có đồng cảm sâu sắc với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam.
Trong các nước Mỹ La-tinh, Mê-hi-cô có vị trí khá đặc biệt do trong lịch sử phát triển của dân tộc mình, Mê-hi-cô có nhiều điểm khá tương đồng với Việt Nam. Từ sau khi tuyên bố độc lập tách khỏi đế quốc Tây Ban Nha ngày 16/9/1810, nhân dân Mê-hi-cô đã phải tiến hành cuộc chiến tranh gian khổ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đẫm máu 11 năm trời trước khi Tây Ban Nha phải công nhận nền độc lập của Mê-hi-cô (27/9/1821). Không lâu sau đó nước Mê-hi-cô non trẻ lại phải đối phó với cuộc bành trướng lãnh thổ của người láng giềng hùng mạnh hơn là Mỹ ở phía Bắc. Sức ép bành trướng dẫn tới cuộc chiến tranh Mỹ - Mê-hi- cônăm 1848 với kết quả Mê-hi-cô bị Mỹ chiếm mất gần 2 triệu km2 đất đai, tức là gần một nửa lãnh thổ Mê-hi-cô sau khi giành được độc lập [42, tr 26].
Mê-hi-cô sau đó còn thường xuyên chịu sức ép của Mỹ trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, v. Bóng ma của chủ nghĩa đế quốc Mỹ đối với Mê-hi- cô lớn đến nỗi tổng thống Mê-hi-cô Porfirio Diaz đã từng đưa ra một câu nói nổi tiếng vào đầu Thế kỷ 20: “Bất hạnh thay một nước Mê-hi-cô, Chúa ở quá xa, còn Mỹ thì ở quá gần”. Trong nửa cuối thế kỷ 19, Mê-hi-cô lại phải đương đầu với cuộc xâm lược của đế quốc Pháp. Năm 1862, quân đội Pháp dưới thời Napoleon III đã tấn công Mê-hi-cô, thiết lập chế độ quân chủ thân Pháp ở đây.
Nhân dân Mê- hi-cô đã phải tiến hành cuộc kháng chiến kéo dài 5 năm (1862-1867) để bảo vệ nền độc lập và chế độ cộng hòa của mình. Sang đầu thế kỷ 20, xu hướng dân chủ, dân tộc lên mạnh ở Mê-hi-cô, nhất là dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga. Lực lượng dân chủ, đứng đầu là Đảng Cách mạng Thể chế (PRI), đã thực hiện cuộc cách mạng dân chủ sâu rộng, chia ruộng đất cho nông dân, tập trung các ngành kinh tế chủ chốt trong tay Nhà nước. Năm 1938, chính phủ Mê-hi-cô quốc hữu hóa toàn bộ ngành dầu khí vốn do các công ty dầu lửa Mỹ và Anh kiểm soát [50, trg 59].
Người dân Mê-hi-cô bán vàng bạc và đồ trang sức góp tiền cho chính phủ trả tiền cho các công ty này, một hành động rất giống Tuần lễ vàng ở Việt Nam tháng 9/1945 sau khi nước ta vừa giành được độc lập. Xu hướng dân tộc lên cao trở thành một yếu tố rất cơ bản xuyên suốt chính sách đối ngoại của Mê-hi-cô trong thế kỷ 20. Các chính phủ Mê-hi- 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cônối tiếp nhau thực hiện chiến lược đối ngoại tiến bộ và khôn khéo. Nằm sát nước Mỹ, Mê-hi-cô tránh gây hấn với Mỹ, thực hiện chính sách láng giềng hữu nghị, tham gia liên minh chống phát xít, phát triển quan hệ kinh tế rất sâu rộng với Mỹ.
Mặt khác, Mê-hi-cô thực hiện chính sách trung lập tích cực, làm quan sát viên của Phong trào không liên kết, phát triển quan hệ chặt chẽ với các nước Mỹ La-tinh. Chính Mê-hi-cô đã từng là “đất thánh” cho Fidel Castro và các nhà cách mạng Cu-ba khác trong thời kỳ khó khăn. Tình hình lịch sử nói trên tại Mê-hi-cô đã tạo được yếu tố khá thuận lợi cho quan hệ Việt Nam – Mê-hi-cô. Tuy xa cách nhau về địa lý và gặp khó khăn do tình hình quốc tế, nhân dân hai nước có được đồng cảm sâu sắc về ý chí độc lập tự chủ, có mong muốn cao về sự đoàn kết hợp tác vì hoài bão dân tộc chung.2 Quan hệ Việt Nam – Mê-hi-cô từ năm 1975 đến trước năm 2000 Về mặt chính trị, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam và việc Việt Nam hoàn thành thống nhất đất nước đã mở ra bước khởi đầu mới cho quan hệ của Việt Nam với Mê-hi-cô.
Mê-hi-cô tuy chịu ảnh hưởng nặng nề của Mỹ về nhiều mặt, nhưng vẫn duy trì chính sách tương đối độc lập tự chủ, nhất là đối với các phong trào giải phóng dân tộc và các nước Mỹ La-tinh. Đồng thời, sau 1973 rất nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả các nước phát triển phương Tây như Tây Âu và Nhật đều đồng loạt thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Chính vì vậy, mặc dù sau ngày 30/4/1975, Mỹ tiến hành chính sách bao vây cấm vận đối với Việt Nam nhưng Mê-hi-cô vẫn nhanh chóng tuyên bố công nhận ngoại giao chính phủ Việt Nam và đề nghị trao đổi cơ quan đại diện ngoại giao [19]. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hai bên đã thỏa thuận thiết lập quan hệ ngoại giao từ ngày 19/5/1975.
Việt Nam đã nhanh chóng thiết lập Đại sứ quán Việt Nam tại Mê- hi-cô ngay trong năm này. Tình cảm của chính phủ và nhân dân Mê-hi-cô đối với Việt Nam được thể hiện rõ qua việc phíaMê-hi-côthông cảm với khó khăn tài chính của Việt Nam sau chiến tranh và đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Việt Nam. Tổng thống Mê-hi-côLuis Echeverría đã đích thân chỉ đạo cho Bộ Ngoại giao Mê-hi-cô chăm lo giúp đỡ Đại sứ quán Việt Nam tìm trụ sở thích hợp. Trong tình khó khăn chính trị và tài chính trong những năm 80 của thế kỷ trước, Việt Nam đã rút một loạt sứ quán ở nước ngoài, nhưng vẫn duy trì cơ quan đại diện tại Mê-hi-cô.
Đại sứ quán trở thành căn cứ để Việt Nam quan hệ với nhiều nước khác trong khu vực Trung Mỹ mà Việt Nam không có cơ quan đại diện ngoại giao. Trong tình hình bị Mỹ bao vây cấm vận, cơ quan ngoại giao Việt Nam tại Mê-hi-cô phát huy vai trò tuyên truyền vận động cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và lập trường chính nghĩa của Việt Nam trong vấn đềCam-pu-chia. Năm 1976,Mê-hi-cô đã mở Đại sứ quán tại Hà Nội nhưng lại đóng cửa năm 1980 với lý do khó khăn về tài chính. Nguyên nhân thực sự có thể là do quan hệ kinh tế giữa hai nước lúc đó hầu như chưa có gì và Việt Nam đang vướng vấn đề Cam-pu-chia.