đặt vấn đề và đưa ra một vài bình luận và nhận xét ban đầu về vị thế địa - chính trị Đông Nam Á nói chung, vai trò của tổ chức ASEAN và các nước thành viên nói riêng trong bàn cờ địa - chính trị thế giới thập niên đầu thế kỷ XXI. Khu vực Đông Nam Á hiện nay bao gồm tất cả lãnh thổ của 10 nước thành viên ASEAN với diện tích gần 4,5 triệu km2, dân số gần 600 triệu người và trên 700 tỉ USD tổng thu nhập quốc dân. Xét về nguồn tài nguyên thiên nhiên, thì Đông Nam Á rất giàu có và đa dạng. Sản phẩm cao su tự nhiên, dầu cọ, dầu dừa, gạo là một trong những mặt hàng nông nghiệp được ưa chuộng trên thế giới.
Xuất khẩu cao su của ba nước Đông Nam Á là Thái Lan, Indonesia và Malaysia hiện nay chiếm khoảng 50% sản lượng cao su tự nhiên của thế giới. Trong số 3 nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới trong thập niên gần đây, thì Đông Nam Á có 2 nước là Thái Lan và Việt Nam (Mỹ đứng thứ nhất). Đông Nam Á còn là nơi giàu có về khoáng sản. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Indonesia và Brunei có sản lượng khai thác dầu mỏ, khí đốt vào hàng lớn trên thế giới.
Việt Nam những năm gần đây cũng đang vươn lên giành quy chế nước xuất khẩu dầu quan trọng của khu vực. Malaysia và Thái Lan là những nước đứng đầu thế giới về khai thác thiếc. Chính sự giàu có và đa dạng về tài nguyên thiên nhiên này làm cho Đông Nam Á từ thời thượng cổ, đặc biệt là trong lịch sử cận hiện đại trở thành đối tượng hấp dẫn của các nhà buôn người Ả Rập, Ấn Độ, Trung Quốc và sau này của phương Tây và Nhật Bản trong việc mở rộng các mối quan hệ thương mại của mình. Đứng trên góc độ địa-chiến lược thì Đông Nam Á nằm ở khu vực thuận lợi trên con đường thông thương và phòng thủ quốc tế.
Nằm ở ngã ba châu Á, án ngữ trên con đường hàng hải thuận tiện nhất từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương, giữa Đông Bắc Á và Nam Thái Bình Dương. Khoảng hai thập niên trở lại đây, Đông Nam Á trở thành cầu hàng không nối các chuyến bay từ Đông Bắc Á, Bắc Mỹ sang nhiều nước Tây Nam Á, Trung Đông-Bắc Phi và Trung-Đông Âu. Bởi nằm ở vị trí địa lý chiến lược trọng yếu, nơi nối liền các mạch máu giao thông giữa các châu lục và đại dương và nơi giàu có về tài nguyên thiên nhiên, nên từ thời Trung cổ, Đông Nam Á đã trở thành nơi tranh giành ảnh hưởng giữa nền văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa (từ đầu công nguyên) và sau đó là nền văn hóa Ả Rập - Ba Tư (từ thế kỷ XIV). Các tôn giáo chính của thế giới lúc đó là Hinđu giáo, Khổng giáo và Hồi giáo đã xâm nhập sâu rộng, thiết lập được vị trí vững bền và dần dần trở thành một phần của lối sống văn hóa của các dân tộc Đông Nam Á.
Trong Chiến tranh lạnh, Đông Nam Á là nơi tập trung cao độ các mâu thuẫn của trục tam giác chiến lược Mỹ-Xô-Trung và là điểm nóng gay gắt nhất trong cuộc đối đầu giữa hai cực Liên Xô và Mỹ. Kết quả là làm cho Đông Nam Á chia thành hai chiến tuyến đối lập, thù địch nhau, một bên là ba nước Đông Dương (gồm Việt Nam, Lào và Campuchia) theo xu hướng xã hội chủ nghĩa và bên kia là các nước ASEAN cũ (Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines và Brunei) phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, tiền đồn ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan tràn xuống phương Nam. Nhờ có “chất kết dính của Chiến tranh Lạnh” mà các nước 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ASEAN ban đầu đã nhận được sự hỗ trợ đắc lực từ phía các nước tư bản phát triển, đặc biệt là Mỹ và Nhật Bản. Để thi đua với xã hội chủ nghĩa, các nước tư bản công nghiệp đã đầu tư một lượng tư bản lớn và chuyển giao công nghệ mới cho các nước ASEAN.
Kết quả là nền kinh tế các nước này trong thập niên 70-80 phát triển nhanh và hội nhập tương đối có hiệu quả vào hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa. Sự gắn kết của các nước ASEAN với hệ thống tư bản chủ nghĩa đã góp phần quan trọng tạo nên tiền đề vật chất cũng như cơ sở pháp lý thúc đẩy hợp tác nội bộ ASEAN đi vào nấc thang mới là liên kết kinh tế, làm cho tổ chức này từ đầu thập niên 90 trở thành một thực thể kinh tế-chính trị tương đối thống nhất, có uy tín trong hệ thống quan hệ quốc tế. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Đông Nam Á trở thành nơi hội tụ của những nỗ lực hợp tác giữa các nước trong và ngoài khu vực. ASEAN đã đưa ra hàng loạt sáng kiến mới nhằm thích ứng với sự gia tăng của toàn cầu hóa và thay đổi quyền lực trên thế giới.
Sự phát triển năng động và có hiệu quả của các nước ASEAN ở cuối những năm 80, nửa đầu những năm 90 cùng với sự ra đời các cơ chế hợp tác mới như thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và Diễn đàn An ninh Khu vực ASEAN (ARF) vào năm 1994 cũng như bước đột phá kết nạp Việt Nam vào tổ chức này vào năm 1995 đã biến ASEAN tiến tới gần như “một trung tâm quyền lực mới” ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Nếu như trong chiến tranh lạnh ở khu vực này (CA-TBD) có 4 cực là Mỹ-Xô-Nhật-Trung chi phối, thì sang thập niên 90 có 5 cực là Mỹ-Trung-Nhật-Nga và ASEAN. Sự xuất hiện cực mới ASEAN là một trong những nhân tố tích cực thúc đẩy xu hướng đa cực hóa, góp phần củng cố an ninh và thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực và quốc tế. Bước vào thập niên đầu của thế kỷ XXI thì khu vực Đông Nam Á nói chung, ASEAN nói riêng đang đứng trước những vận hội và thách thức đan xen trên con đường tiếp tục khẳng định mình.
Cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ 1997-1998 đã gây ảnh hưởng kép về kinh tế và chính trị đối với tổ chức và các nước ASEAN nói chung. Cuộc khủng hoảng đã làm yếu đi sức mạnh kinh tế, gây ra sự bất ổn chính trị nội bộ và làm chậm trễ các chương trình liên kết của ASEAN. Sự yếu kém trong 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc giải quyết các vấn đề kinh tế của mình cũng với sự gia tăng xung đột sắc tộc - tôn giáo, chủ nghĩa ly khai, chủ nghĩa khủng bố và khủng hoảng thế hệ lãnh đạo, hệ thống chính trị - quyền lực ở nhiều nước ASEAN đã làm suy giảm phần nào uy tín và sức mạnh của Hiệp hội trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và trên trường quốc tế nói chung. Mặc dầu vậy, vị trí địa chiến lược của Đông Nam Á nói chung, vai trò của tổ chức ASEAN nói riêng trong cán cân ảnh hưởng và quyền lực của các nước lớn, của các phe phái, cực quyền và khu vực không hề suy giảm.
Với việc kết nạp Campuchia, nước cuối cùng của Đông Nam Á vào ASEAN năm 1999 làm cho tổ chức này bước vào thế kỷ XXI với sức mạnh tổng hợp của hơn 500 triệu dân và trên 700 tỉ USD thu nhập quốc dân. Với thị trường đầy tiềm năng (tài nguyên thiên nhiên giàu có và đa dạng, nhân công dồi dào và cần cù lao động, chính phủ và dân chúng khát khao vươn lên cải tạo đói nghèo và cùng chia sẻ chung về những giá trị văn hóa truyền thống, thân phận lịch sử, quyền lợi và trách nhiệm v.), những bài học thành công cũng như thất bại trong quá khứ cùng với những cơ chế mới đã và đang được tạo ra trong từng nước và cả tổ chức (như đổi mới chính sách kinh tế vĩ mô, thúc đẩy dân chủ hóa xã hội, thiết lập các cơ chế, thể chế hợp tác mới song phương, đa phương v.) thì có thể tin tưởng rằng nền kinh tế các nước ASEAN sẽ lấy lại được đà tăng trưởng cao trong những năm sắp tới. Khi kinh tế tăng trưởng trở lại thì các nỗ lực hợp tác và liên kết nội khối, mà điển hình là thực hiện AFTA sẽ diễn ra suôn sẻ, và môi trường chính trị - xã hội và đoàn kết của Hiệp hội nói chung, không chỉ bình ổn trở lại, mà còn được củng cố hơn lên. Và như vậy, ASEAN và các nước thành viên của nó sẽ có tiếng nói quan trọng hơn và đóng góp nhiều hơn trong việc thúc đẩy hợp tác kinh tế và gìn giữ an ninh ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và trên thế giới.
Quan hệ Trung Quốc – ASEAN có những tiến triển mạnh mẽ Trong lĩnh vực chính trị - ngoại giao: Thập niên 1990, Trung Quốc đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với ASEAN, một tổ chức có uy tín trong khu vực với 10 nước thành viên. Sau đó, quan hệ song phương của Trung Quốc với các nước thành viên ASEAN cũng dần được hâm nóng. Trung Quốc vô cùng coi trọng việc 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển mối quan hệ hợp tác, hữu nghị với các nước Đông Nam Á. Nhiều nhà lãnh đạo của Trung Quốc đã đến thăm 10 nước thành viên ASEAN2, khẳng định sự coi trọng của Trung Quốc đối với ASEAN.
Hơn nữa, trong các cuộc viếng thăm, lãnh đạo Trung Quốc đều đưa ra các đề nghị làm sâu sắc, mở rộng hơn nữa hợp tác song phương. Một thời gian dài trước đây, Trung Quốc chỉ chú trọng đến phát triển mối quan hệ song phương với từng quốc gia riêng biệt tại Đông Nam Á. Thời gian gần đây, sự phát triển của nền kinh tế cũng như sức mạnh quốc gia của Trung Quốc đã giúp nước này có thêm sự tự tin trên các diễn đàn khu vực và thế giới. Với những nỗ lực không mệt mỏi của chính mình trong việc hợp tác với khối ASEAN, quan hệ hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN ngày càng rộng mở và sâu sắc.
Từ thập niên 1990, Trung Quốc xác định việc phát triển mối quan hệ hữu nghị với ASEAN là một chiến lược mang tính tổng hợp. Năm 1991, Trung Quốc trở thành đối tác thương lượng của ASEAN, năm 1996, Trung Quốc được nâng cấp trở thành đối tác đối thoại toàn diện của ASEAN. Hội nghị cấp cao lần thứ nhất giữa Trung Quốc và ASEAN được tổ chức vào năm 1997, thể hiện sự coi trọng của lãnh đạo các bên trong việc phát triển mối quan hệ hợp tác này.