CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước 1. Vấn đề tổ chức chính trị và hoạt động kinh tế của Champa Nhà sử học Lương Ninh là một trong những chuyên gia có nhiều nghiên cứu chuyên sâu nhất về vấn đề tổ chức chính trị và vấn đề thể chế của vương quốc cổ Champa, trong đó nổi bật là công trình Lịch sử vương quốc Champa xuất bản năm 2004 [107]. Trong công trình quan trọng này, tác giả đã nghiên cứu về các vấn đề lịch sử chính trị, văn hóa, xã hội của Champa từ thế kỉ II đến thế kỷ XVII dựa trên các tư liệu bi ký cổ Champa, thư tịch Trung Hoa và Đại Việt, tư liệu khảo cổ học, cũng như các nghiên cứu trước đó của các học giả Châu Âu.
Tác giả cho rằng, Champa là một quốc gia trải dài trên bờ biển miền Trung Việt Nam nên mối liên hệ giữa các vùng cửa sông là một nhu cầu cần thiết và thực tế; dân cư đều là đồng tộc, cùng ngôn ngữ, có văn hóa truyền thống giống nhau; từ thế kỷ II đến thế kỷ XV không có lúc nào mà vương quốc này không phải lo đối phó với các thế lực và cường quốc bên ngoài nên nó thường xuyên có nhu cầu liên kết, thống nhất dân cư và thiết lập một chính quyền tập trung. Bởi vậy, các vua Champa thường xuyên tự gọi là đại vương (Maharaja) và cũng thường xuyên làm bổn phận của mình là đánh bại Trung Quốc thời chính quyền đô hộ phủ triều Đường, đặc biệt, đánh lại Chân Lạp trong cuộc chiến tranh 100 năm năm vì lợi ích của Champa, đánh lại Đại Việt trong thế kỷ cuối Vijaya. Từ đó, nhà sử học Lương Ninh cho rằng, việc xây dựng một vương quốc thống nhất, một vương quyền tập trung là nhu cầu thực sự, các vua Chăm tự xưng là chakravartin (Đấng Tối thượng) để củng cố quyền lực trên toàn lãnh thổ. Từ quan điểm này, tác giả cho rằng “rõ ràng là không đúng nếu hình dung Champa chưa phải là một vương quốc, mà chỉ là sự tập hợp không bền vững của các mảnh dân cư dưới một chính quyền không chắc chắn, không phải của những dòng vua, triều vua” [107, tr.
Khác với quan điểm nghiên cứu của tác giả Lương Ninh, một số nhà nghiên cứu khác ở Việt Nam chịu ảnh hưởng từ khái niệm mandala để chỉ các chính thể cổ ở Đông Nam Á của O.Wolters, đã xem xét Champa như một mandala điển hình ở Đông Nam Á [184, tr8-24]. Chẳng hạn nhà khảo cổ học Trần Quốc Vượng với cách tiếp cận địa - văn hóa, địa - lịch sử độc đáo của mình đã giới thiệu một mô hình các vùng văn hóa Champa, từ đó phác dựng nên mô hình: Núi thiêng - Kinh đô (đất thiêng) và Cảng 14 thị, tất cả các không gian đó cùng kết nối với nhau theo trục của một dòng sông (Sông thiêng). Nhà khảo cổ học Trần Quốc Vượng là một trong những chuyên gia đầu tiên của Việt Nam nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc nghiên cứu tiềm năng, động lực phát triển và các hoạt động kinh tế của Champa, đặc biệt là tiềm năng và hoạt động khai thác kinh tế biển. Ông đã đưa ra giả thuyết về sự hiện diện của cả một nền văn hóa cảng thị tại miền Trung của Việt Nam [184; 186; 189].
Ông cho rằng,“người Chăm và văn hóa Champa trong khoảng 15-16 thế kỷ tồn tại đã thích nghi và ứng biến tài tình với mọi hệ sinh thái từ núi rừng tới biển khơi”, và người Chăm cổ đã có tầm nhìn đúng đắn về biển, trên cơ sở đó cấu trúc một nền kinh tế tổng hợp đa ngành để xây dựng nên một vương quốc Champa hưng thịnh [186, tr. Những nghiên cứu và nhận định mang tính học thuật của nhà khảo cổ học Trần Quốc Vượng, cho dù chưa thực sự là các chuyên khảo, nhưng mang đầy tính gợi mở và hướng đạo cho các nghiên cứu về sau, mà tác giả của Luận án này là người chịu ảnh hưởng trực tiếp. Chịu ảnh hưởng của O.Wolters và Trần Quốc Vượng, nhà nghiên cứu Trần Kỳ Phương coi Champa như một mandala dọc theo các thung lũng ven sông và ven biển. Khảo sát những di tích khảo cổ và kiến trúc ở miền Trung Việt Nam, đặc biệt là vùng Quảng Nam.
Ông đã chỉ ra các yếu tố kiến dựng nên một tiểu quốc/mandala Champa bao gồm: Núi thiêng, Sông thiêng và ba trung tâm quan trọng khác gồm: Cảng thị, Trung tâm quyền lực của hoàng gia và Trung tâm tôn giáo của hoàng gia dọc theo các dòng Sông thiêng đó [130; 131]. Việc nghiên cứu làm rõ vấn đề mô hình, thể chế chính trị của Champa có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần nghiên cứu về các hoạt động bang giao và thương mại của Champa. Vì vậy, chủ đề này sẽ được tiếp tục nghiên cứu và thảo luận trong Luận án. Tác giả Trần Kỳ Phương cũng đã có nhiều nghiên cứu về các mạng lưới trao đổi ven sông của Champa, đặc biệt nhấn mạnh vào các hoạt động trao đổi kinh tế diễn ra tại mạng lưới giao thương dọc theo sông Thu Bồn [132; 312].
Bằng việc khảo sát các dấu tích khảo cổ học, dấu ấn nghệ thuật và kết quả của nghiên cứu điền dã, Trần Kỳ Phương đã chứng minh rằng các cư dân cổ Champa đã vận hành các mạng lưới trao đổi ven sông giống như mô hình “mạng lưới trao đổi ven sông” (Riverine Exchange Network) mà Bennet Bronson đã áp dụng khi nghiên cứu trường hợp các vương quốc cổ ở Indonesia. Mô hình hoạt động kinh tế cổ này ở Đông Nam Á và Champa đã được nhà nghiên cứu Trần Kỳ Phương và một số nhà nghiên cứu khác chứng minh dựa trên các tư liệu khảo cổ học và cho thấy tiềm năng lớn cho việc nghiên cứu về lịch sử hoạt động kinh tế của cư dân Champa xưa. Mô hình hoạt động 15 kinh tế này cũng sẽ được tác giả Luận án kế thừa và phát triển trong Luận án của mình để khảo sát và làm sáng tỏ các mạng lưới trao đổi ven sông ở các dòng sông khác ở miền Trung Việt Nam thời Champa như sông Côn (Bình Định), sông Trà Khúc (Quảng Ngãi). Các mối bang giao và thương mại Châu Á truyền thống Vấn đề bang giao và thương mại châu Á gần đây nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều chuyên gia và đơn vị nghiên cứu ở Việt Nam, đặc biệt là những đóng góp của Nhóm Nghiên cứu Thương mại châu Á của Đại học Quốc gia Hà Nội do nhà sử học Nguyễn Văn Kim là trưởng Nhóm.
Dưới sự hướng dẫn và định hướng của trưởng nhóm, các thành viên của nhóm đã có sự hợp tác sâu, rộng với các chuyên gia trong và ngoài nước, tiến hành các nghiên cứu về quan hệ bang giao, lịch sử hải thương châu Á và mối giao lưu kinh tế Đông - Tây. Những công trình nghiên cứu này đã góp phần quan trọng trong việc làm sáng tỏ truyền thống và hoạt động ngoại thương của người Việt trong suốt chiều dài lịch sử, đặt trong bối cảnh các mạng lưới bang giao và thương mại khu vực và quốc tế. Trong nhiều năm qua, tác giả Nguyễn Văn Kim, với vai trò là Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Toàn cầu và cũng là Trưởng Nhóm Nghiên cứu Biển và Thương mại châu Á của Đại học Quốc gia Hà Nội, đã có nhiều sự phối hợp, nghiên cứu liên ngành để làm sáng tỏ truyền thống và hoạt động ngoại thương của Việt Nam trong bối cảnh và hệ thống thương mại châu Á. Kết quả đạt được là các công trình: Vân Đồn - Thương cảng quốc tế của Việt Nam, Việt Nam trong hệ thống thương mại châu Á thế kỷ XVI-XVII, Người Việt với biển, Việt Nam - Truyền thống kinh tế, văn hóa biển, Việt Nam trong các mối quan hệ khu vực và quốc tế, Biển Việt Nam và các mối giao thương biển, Biển với lục địa - Vai trò và mạng lưới giao lưu ở lưu vực các dòng sông miền Trung, Việt Nam - Tiềm năng và vị thế, Huyền thoại về một vùng đất - Không gian văn hóa Tây Nguyên qua sử thi Êđê.
đã góp phần làm sâu sắc hơn những nhận thức về truyền thống khai thác biển, tư duy hướng biển và hoạt động kinh tế biển của Việt Nam (trong đó có quan hệ thương mại của Champa và các thương cảng miền Trung), đồng thời cũng góp phần làm sáng tỏ cơ chế vận hành của các mạng lưới bang giao, thương mại của khu vực. Là một chuyên gia nghiên cứu về lịch sử thương mại toàn cầu, nhà sử học Hoàng Anh Tuấn đã công bố nhiều công trình quan trọng về hoạt động thương mại và bang giao quốc tế ở châu Á, đặc biệt là giai đoạn thế kỷ XVII-XVIII. Một số công trình quan trọng của tác giả Hoàng Anh Tuấn có thể kể đến như: bài viết “Cù Lao Chàm và hoạt động thương mại ở Biển Đông thời Vương quốc Champa” [178, tr.123- 16 134], bài viết “Regionalizing National History: Ancient and Medieval Vietnamese Maritime Trade in the East Asian Context” [322, tr.87-106], cuốn sách chuyên khảo Silk for Silver: Dutch-Vietnamese relations, 1637-1700 [323], chuyên khảo Thương mại thế giới và hội nhập của Việt Nam thế kỷ XVI-XVIII. Trong đó, công trình chuyên khảo Thương mại thế giới và hội nhập của Việt Nam thế kỷ XVI-XVIII là một trong những công trình quan trọng nghiên cứu trực tiếp về hoạt động bang giao, thương mại quốc tế ở khu vực châu Á, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vào giai đoạn thế kỷ XVI- XVIII.
Ngoài ra, trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu khác của các học giả Việt Nam cũng đã đề cập đến hoạt động bang giao, thương mại của khu vực Châu Á thời cổ trung đại [6], [11], [77], [81], [191]. Vấn đề bang giao và thương mại của Champa với Châu Á Các nhà nghiên cứu bên cạnh việc thảo luận về vấn đề “Ấn Độ hóa” ở Champa, cũng đã lưu ý tới một “nhân tố Trung Hoa” trong việc định hình và phát triển của văn hóa Champa. Trên cơ sở nhiều năm khảo cứu ở miền Trung, chuyên gia khảo cổ học Lâm Mỹ Dung đã đưa ra một giải thích mới về quá trình thâm nhập của văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa vào miền Trung Việt Nam trong những thế kỷ đầu Công nguyên. Theo đó, những ảnh hưởng ngoại sinh ở Đông Nam Á cũng như Champa bắt đầu từ khoảng đầu thiên kỷ thứ nhất.
Các yếu tố Ấn Độ, thay vì có vị trí độc tôn như cách hiểu truyền thống, đã cùng tồn tại với các dòng văn hóa ngoại lai khác, đặc biệt là các yếu tố văn hóa Hán từ Trung Quốc cùng thâm nhập đến Champa.