MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sự ra đời của KTNN gắn với sự ra đời của nhà nước. Qua nhiều chặng đường lịch sử, KTNN, cũng như DNNN đã có những bước phát triển đa dạng về quy mô, hình thức tổ chức. DNNN tồn tại phổ biến không chỉ ở các quốc gia XHCN mà cả ở các quốc gia tư bản chủ nghĩa.
Xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề cải cách DNNN, trong đó hoàn thiện quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN luôn là vấn đề được quan tâm đặc biệt nhằm đảm bảo vai trò chủ đạo của KTNN trong đó DNNN là nòng cốt. Điều này có ý nghĩa to lớn trong quá trình đổi mới toàn diện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Quan hệ pháp lý giữa nhà nước và DNNN là mối liên hệ về mặt pháp lý giữa nhà nước và DNNN và luôn được đổi mới, hoàn thiện trên cơ sở hoàn thiện các quan hệ kinh tế. Thực tiễn cho thấy, muốn tăng cường hiệu quả hoạt động của DNNN, phải không ngừng hoàn thiện quan hệ giữa nhà nước (nhà đầu tư) và DNNN (đơn vị kinh doanh) cho phù hợp với đặc điểm và điều kiện của nước ta trong từng giai đoạn phát triển.
Quá trình hoàn thiện QHPL này đã có những bước tiến rất lớn. DNNN từ một đơn vị kinh tế thụ động phụ thuộc hoàn toàn vào nhà nước đã trở thành một DN tự chủ kinh doanh. Nhà nước cũng dần chuyển từ việc thực hiện cơ chế tập trung quan liêu sang cơ chế thị trường, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho DNNN. Trong hơn hai thập kỷ qua, hoàn thiện QHPL này luôn được Đảng và Nhà nước ta coi là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta.
Hầu hết các nỗ lực đều tập trung vào hoàn thiện môi trường pháp lý và cơ chế kinh tế để tăng cường chức năng chủ sở hữu, hiệu quả vốn đầu tư của nhà nước và quyền tự chủ của DNNN. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của việc hoàn thiện QHPL này vẫn chưa đem lại kết quả như mong muốn. KTNN chưa làm tốt vai trò chủ đạo; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của DNNN chưa cao. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Thứ nhất là do hệ thống pháp luật về DNNN chưa phù hợp, tính khả thi không cao, các yếu tố của thị trường phát triển chưa hoàn chỉnh, nhiều quan hệ được thiết lập không trên cơ sở luật pháp dẫn tới còn sự bất bình đẳng giữa các loại hình DN.
Thứ hai, do việc chấp hành pháp luật yếu kém, ý thức tôn trọng pháp luật không cao của nhiều cán bộ, viên chức nhà nước, người quản lý và lao động trong DNNN. Thứ ba, do nhà nước chưa thực hiện đúng vai trò, chức năng của mình về việc xây dựng môi trường pháp lý và thị trường bình đẳng. Thứ tư, nhà nước chưa phân định rạch ròi giữa quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh, việc thực hiện quyền sở hữu của nhà nước và quyền tự chủ kinh doanh còn mang nặng tính hành chính, chưa hoàn toàn phù hợp với cơ chế thị trường. Thứ năm, việc phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật đối với các chủ thể nêu trên chưa kịp thời, chưa nghiêm chỉnh, dẫn đến sự điều chỉnh của pháp luật bị hạn chế.
Vì vậy, hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN có ý nghĩa lý luận và thực tiễn để nhà nước quản lý tốt hơn, thực hiện đúng đắn quyền sở hữu tài sản và vốn của nhà nước tại DNNN, đảm bảo quyền tự chủ, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của DNNN. Đặc biệt là, theo quy định tại điều 166 Luật Doanh nghiệp năm 2005, đến tháng 7/2010, tất cả các doanh nghiệp đều phải chuyển đổi theo các loại hình quy định của Luật này. Xuất phát từ lý do đó, học viên đã chọn đề tài: “Quan hệ pháp lý giữa nhà nƣớc và doanh nghiệp nhà nƣớc ở Việt Nam hiện nay” để làm Luận văn Thạc sĩ Luật học. Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài Nghiên cứu về Nhà nước và DNNN đã cũng có rất nhiều công trình khoa học, như: Chế độ quản lý về quyền sở hữu vốn và tài sản trong doanh nghiệp nhà nước – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Luận án Thạc sĩ Luật học của tác giả Phạm Bình An (2001), Đổi mới, tăng cường thành phần KTNN – Lý luận, chính sách và giải pháp của GS.
TS Vũ Đình Bách (chủ biên) (2001), Bàn về cải cách toàn diện doanh nghiệp nhà nước của tác giả Trương Văn Bân (chủ biên) (1996), Địa vị 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp lý của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Luận án Phó Tiến sĩ Luật học của tác giả Trần Thị Hoà Bình (1996), Sở hữu nhà nước và doanh nghiệp nhà nước của PGS, TS Nguyễn Cúc và PGS, TS Kim Văn Chính (2006), Kinh tế nhà nước và quá trình đổi mới DNNN của PGS, TS Ngô Quang Minh (2003), Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước – Những vấn đề lý luận và thực tiễn của PGS. TS Lê Hồng Hạnh (2004) … Các công trình khoa học trên đã phân tích khái niệm, đặc trưng, vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường, mô hình hệ thống kinh tế xã hội vận dụng vào việc phát triển hệ thống thị trường và nghiên cứu về tác dụng điều tiết hệ thống thị trường của DNNN. Chúng cũng đã đề cập đến những vấn đề mang tính lý luận, phương pháp luận và đánh giá thực trạng của quá trình sắp xếp lại DNNN trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Các công trình này đã đánh giá tương đối có hệ thống sự tác động của Nhà nước thông qua luật pháp và các chính sách lớn trong quá trình hình thành và phát triển thị trường ở Việt Nam, đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường và đổi mới sự tác động của Nhà nước đối với thị trường định hướng XHCN.
Các công trình này cũng đã phân tích cơ sở lý luận, thực trạng và những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Nhà nước đối với các loại hình DN. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3. Mục đích của luận văn Làm rõ cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN, đánh giá thực trạng quan hệ, đề xuất phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện QHPL giữa nhà nước với DNNN trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nhiệm vụ của luận văn Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau đây: Một là, xác định khái niệm DNNN và khái niệm QHPL giữa nhà nước và DNNN.
Từ đó làm sáng tỏ nội dung, đặc điểm, khách thể và các yếu tố tác động đến QHPL giữa nhà nước và DNNN. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hai là, đánh giá thực trạng quá trình hình thành và phát triển của QHPL giữa nhà nước và DNNN ở nước ta trong thời kỳ đổi mới. Ba là, trên cơ sở những tiền đề lý luận và sự đánh giá thực trạng QHPL giữa nhà nước và DNNN, luận văn đưa ra định hướng và các giải pháp hoàn thiện QHPL giữa nhà nước và DNNN trong điều kiện mới. Phạm vi nghiên cứu của luận văn Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ pháp lý giữa nhà nước với DNNN, trong đó nhà nước với tư cách là nhà đầu tư.
Việc nghiên cứu các quan hệ pháp luật cụ thể trong đời sống thực tiễn (trạng thái động) có tính chất minh chứng cho những nhận xét, đánh giá về QHPL giữa nhà nước và DNNN (trạng thái tĩnh). QHPL giữa nhà nước và DNNN có phạm vi rộng lớn liên quan đến nhiều lĩnh vực đòi hỏi phải xem xét nhiều góc độ của nhiều ngành khoa học pháp lý. Vì vậy, luận văn không tập trung đi sâu vào quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của DNNN mà tập trung nghiên cứu QHPL giữa nhà nước (nhà đầu tư) và DNNN (tổ chức kinh doanh). Tuy nhiên, do chức năng quản lý kinh tế và chức năng của nhà đầu tư không phân biệt rạch ròi nên luận văn cũng đề cập đến một số nội dung của quản lý kinh tế liên quan đến quyền tự chủ kinh doanh của DNNN và quyền sở hữu của nhà nước trong quan hệ giữa nhà nước và DNNN.
Về thời gian, luận văn chỉ nghiên cứu QHPL giữa Nhà nước ta và DNNN trong giai đoạn đổi mới từ 1986 cho đến nay. Việc nghiên cứu trước đổi mới có tính cách rút ra tiền đề để đánh giá thực trạng QHPL này. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật: quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng ta về đổi mới kinh tế, hoàn thiện nhà nước, pháp luật trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tích, tổng hợp, hệ thống, thống kê, so sánh, phương pháp lịch sử.
Dựa vào các phương pháp nghiên cứu nêu trên, học viên tiến hành phân tích các quy phạm pháp luật, thu nhập, xử lý số liệu, dữ liệu liên quan đến đề tài, bao gồm các nguồn tư liệu lý luận về nhà nước, chức năng kinh tế của nhà nước, quan hệ giữa nhà nước với DNNN, quan điểm, lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn của các nhà khoa học trong và ngoài nước. Qua đó, xây dựng và hoàn thiện các quan điểm khoa học về vấn đề hoàn thiện QHPL giữa nhà nước với DNNN. Luận văn sử dụng phương pháp xã hội học pháp luật và luật học so sánh thông qua việc sử dụng một số tư liệu và kết luận của một số cuộc phỏng vấn đưa tin và thăm dò xã hội học của một số tác giả, báo chí để xem xét đánh giá những biểu hiện trên thực tế của QHPL giữa Nhà nước và DNNN. Phương pháp luật học so sánh được dùng để so sánh sự phát triển, sự tương đồng và khác nhau của một số quy định pháp luật điều chỉnh QHPL ở Việt Nam và ở một số nước khác qua các giai đoạn lịch sử.