mở đầu cho NguyÔn KiÒu Trang - Líp cao häc §«ng ph¬ng khãa VI 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quan hÖ mËu dÞch biªn giíi ViÖt Nam- Trung Quèc tõ n¨m 1991 ®Õn nay quan hệ trao đổi hàng hoá giữa cư dân vùng biên giới Việt - Trung sau một số năm bị gián đoạn dù số lượng trao đổi còn ít và chỉ trong phạm vi nhỏ. Trước tình hình đó, để đáp ứng nguyện vọng của nhân dân vùng biên giới, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam có chủ trương cho phép nhân dân vùng biên giới được qua lại thăm thân nhân và trao đổi hàng hoá thiết yếu phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Đây là một chủ trương quan trọng đánh dấu bước khởi đầu cho việc bình thường hoá quan hệ Việt - Trung đồng thời mở ra một thời kỳ mới cho mậu dịch biên giới giữa hai nước. Tiếp đó, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ra nhiều văn bản cho phép các tỉnh miền núi phía Bắc được xuất, nhập khẩu tiểu ngạch để giải quyết các vấn đề cấp bách về kinh tế và xã hội.
Các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý làm cho buôn bán biên giới trở nên sôi động. Tham gia vào mậu dịch biên giới không chỉ có nhân dân các xã vùng biên, các tư thương, các công ty thương nghiệp của tỉnh, huyện, thị sát vùng biên mà còn có cả các đoàn thể, chính quyền, tổ chức Đảng, doanh nghiệp các tỉnh, thành trong cả nước, thậm chí từ TP. Hồ Chí Minh và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Phải đến năm 1988, hai nước mới bắt đầu mở cửa lại vùng biên giới.Theo thống kê, năm 1988 giá trị hàng hoá biên giới hai nước đạt khoảng 5 triệu USD, đến năm 1989 đã đạt 50,85 USD tăng hơn 10 lần; năm 1990 là 152,54 triệu USD tăng 3 lần so với năm 1989 [3,tr262].
Giai đoạn này, Việt Nam chủ yếu nhập hàng thiết yếu và vật phẩm tiêu dùng có chất lượng thấp và xuất sang Trung Quốc hàng nông lâm hải sản, khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên, nhiên liệu công nghiệp. Nhìn chung Việt Nam thường chịu tình trạng nhập siêu. Sự phát triển nhanh chóng của tình hình đã khiến cho hoạt động mậu dịch qua biên giới Việt - Trung đến năm 1990 đã tuột khỏi tay cư dân địa phương vùng biên giới, rơi vào tay tư thương hoặc tổ chức tập thể ở các tỉnh thành vùng nội địa phía sau. Ví dụ, tại thị trấn Đông Hưng thuộc Quảng Tây (Trung Quốc), nơi tiếp giáp với Móng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh của Việt Nam, vào thời điểm đó, 28 trong số 30 tỉnh thành của Trung Quốc đã đặt văn phòng đại diện mậu dịch ở đây.
Qua đó có thể thấy phía Trung Quốc rất coi trọng phát triển quan hệ kinh tế với Việt Nam. NguyÔn KiÒu Trang - Líp cao häc §«ng ph¬ng khãa VI 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quan hÖ mËu dÞch biªn giíi ViÖt Nam- Trung Quèc tõ n¨m 1991 ®Õn nay Tuy nhiên, trong thời kỳ này bên cạnh công việc buôn bán hợp pháp, đã thấy xuất hiện hiện tượng buôn lậu qua biên giới và tình hình ngày càng gia tăng gây nhiều thiệt hai cho phía Việt Nam. Theo thống kê chưa đầy đủ của riêng tỉnh Lạng Sơn, năm 1990 và 6 tháng đầu năm 1991, số lượng kim loại màu (đồng, niken, nhôm…) xuất lậu sang Trung Quốc là hơn 1.800 tấn, cùng nhiều USD, vàng, đá quý. Số hàng hoá xuất lậu sang Việt Nam qua Lạng Sơn năm 1990 và 6 tháng đầu năm 1991 trị giá đến 65 tỷ đồng Việt Nam.
Số thuế thất thu của tỉnh Quảng Ninh năm 1990 và 6 tháng đầu năm 1991 lên đến hơn 28 tỷ đồng Việt Nam[3,tr264].1: Tổng kim ngạch mậu dịch hai chiều qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc trước khi hai nước bình thường hóa quan hệ (1988 - 1991) Đơn vị tính: triệu USD Năm 1988 1989 1990 1991 Tổng kim ngạch 5 50,85 152,54 290,84 Nguồn: Brantly Womack. Mậu dịch biên giới Trung - Việt: bên cạnh việc bình thường hóa. Tham luận tại Hội thảo "Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc" tổ chức tại Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc, 1992. Ghi chú: Các số liệu trong bảng không bao gồm các hoạt động buôn lậu không kiểm soát được.
Trên đây là sơ qua một số nét về tình hình buôn bán qua biên giới Việt - Trung trước khi quan hệ hai nước được chính thức bình thường hoá về các lĩnh vực. Tuy còn tồn tại một số vấn đề, nổi bật nhất là nạn buôn lậu và hàng hoá địa phương kém phẩm chất …song nhìn chung tình hình là khả quan, là tiền đề cho việc mở rộng và phát triển trên quy mô rộng lớn hơn mối quan hệ kinh tế và mậu dịch chính thức mang tính chính phủ giữa hai nước Trung Quốc - Việt Nam kể từ đầu tháng 11 năm 1991 trở đi. NguyÔn KiÒu Trang - Líp cao häc §«ng ph¬ng khãa VI 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quan hÖ mËu dÞch biªn giíi ViÖt Nam- Trung Quèc tõ n¨m 1991 ®Õn nay CHƯƠNG II: QUAN HỆ BIÊN MẬU VIỆT - TRUNG TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY 2. Những tiền đề khách quan và chủ quan cho việc bình thường hoá quan hệ hai nước 2.
Tiền đề khách quan Tình hình quốc tế và khu vực vào cuối những năm 80 đầu những năm 90 có những thay đổi cực kỳ sâu sắc. Sự sụp đổ của Liên Xô vào tháng 9 năm 1991 đã đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ chiến tranh lạnh. Từ đây thế giới bước vào một giai đoạn mới, giai đoạn của xu hướng quốc tế hoá và khu vực hoá trên tất cả các lục địa. Các nước lớn đều tiến hành điều chỉnh chiến lược toàn cầu và chính sách đối ngoại của mình.
Hoà bình và phát triển đã trở thành trào lưu chính của thời đại. Các nước, dù lớn hay nhỏ, đều cố gắng tranh thủ môi trường quốc tế hoà bình để tập trung lực lượng cho nhiệm vụ xây dựng kinh tế của nước mình. Việt Nam và Trung Quốc nằm trong khu vực ổn định nhất và có tốc độ tăng trưởng kinh tế vào loại cao nhất thế giới. Quanh khu vực, nhiều tam giác tăng trưởng-một hình thức hợp tác kinh tế khu vực mới ở châu Á - Thái Bình Dương đã hình thành như Singapore - Malaysia - Indonesia hay tam giác biển vàng nối Đài Loan, Hàn Quốc với miền Đông Nam Trung Quốc.
Nhiều vùng tăng trưởng tiểu khu vực cũng bắt đầu định hình như tiểu vùng sông Mê Kông, tiểu vùng sông Tumen…Mối quan hệ Việt - Trung không thể tránh khỏi xu thế này. Tình hình căng thẳng không bình thường sau chiến tranh biên giới không còn thích hợp cho sự phát triển kinh tế của cả hai quốc gia trong thời đại mà những mâu thuẫn đang dần được giải quyết bằng thương lượng. Thêm vào đó, một trong những ưu tiên trong chính sách kinh tế đối ngoại của Trung Quốc là xây dựng các vành đai mở, tạo ra các thị trường chung trên tuyến biên giới đất liền, đẩy mạnh mậu dịch biên giới. Vì vậy, khu vực biên giới được hưởng nhiều chính sách ưu đãi đặc biệt, cuộc sống ở các vùng biên giới với Việt Nam trở nên nhộn nhịp.
Hơn nữa, hàng hoá của các xí nghiệp hương trấn bắt đầu có xu hướng bão hoà trên thị trường Trung Quốc, trong khi vào thời kỳ này tại Việt NguyÔn KiÒu Trang - Líp cao häc §«ng ph¬ng khãa VI 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quan hÖ mËu dÞch biªn giíi ViÖt Nam- Trung Quèc tõ n¨m 1991 ®Õn nay Nam đời sống kinh tế vô cùng khó khăn, dù đã tiến hành mở cửa nhưng hậu quả nặng nề của thời bao cấp chưa được khắc phục. Ngay cả ở các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, hàng hoá tiêu dùng cũng rất thiếu thốn. Các ngành sản xuất làm ăn trì trệ trong thời bao cấp, mặc dù đã chuyển sang cơ chế thị trường nhưng cũng cần thời gian để thích ứng do đó sản xuất đã không đáp ứng được nhu cầu về hàng hoá. Tình trạng này còn trầm trọng hơn ở các tỉnh miền núi phía Bắc, đời sống của đồng bào các dân tộc gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy, hàng hoá từ phía Trung Quốc bằng mọi cách tràn sang Việt Nam theo con đường hợp pháp và bất hợp pháp. Nhân dân hai bên vùng biên giới có mối quan hệ lâu đời mật thiết, thậm chí là mối quan hệ họ hàng ruột thịt, nhiều khu vực có phong tục tập quán giống nhau. Khi chiến tranh biên giới nổ ra, các mối quan hệ tình cảm này cũng bị gián đoạn, do đó nhân dân hai vùng biên luôn mong mỏi mở cửa biên giới để họ có thể qua lại thăm thân nhân. Một nguyên nhân nữa xuất phát từ lợi ích của việc mở cửa và thực hiện các hoạt động mậu dịch biên giới.
Khi mở cửa khu vực biên giới, hàng hoá từ Trung Quốc sẽ sang Việt Nam và trước mắt giải quyết được tình trạng thiếu thốn của nhân dân khu vực này. Hơn nữa với hàng hoá có giá rẻ, hình thức đẹp, mặc dù chất lượng chưa cao song lại phù hợp với thu nhập và sức mua không chỉ của nhân dân vùng biên mà cả cư dân nông thôn và thành thị có thu nhập thấp. Mặc khác, khu vực biên giới thông qua buôn bán mà tự cải thiện và nâng cao được đời sống thì ngân sách nhà nước sẽ bớt đi một phần gánh nặng. Tiền đề chủ quan Chính sách của Đảng và Nhà nước ta là kiên trì thực hiện đường lối kinh tế mở và hội nhập kinh tế với thế giới.
Việt Nam chủ trương làm bạn với tất cả các nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng chủ quyền của nhau và hai bên cùng có lợi. Mở cửa biên giới được coi là bước đi đầu tiên để tiến tới bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Ngoài ra, để đảm bảo an ninh quốc phòng, vùng biên giới giữa hai nước phải là khu vực ổn định về kinh tế và chính trị, đời sống của nhân dân phải no đủ. Do đó, NguyÔn KiÒu Trang - Líp cao häc §«ng ph¬ng khãa VI 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quan hÖ mËu dÞch biªn giíi ViÖt Nam- Trung Quèc tõ n¨m 1991 ®Õn nay đòi hỏi cả Việt Nam và Trung Quốc phải có những thoả thuận mở lại các cửa khẩu biên giới để nhân dân vùng biên được qua lại thăm hỏi thân nhân, mua sắm hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cư dân và sản xuất, tạo điều kiện nâng cao mức sống của nhân dân.