mở đầu cho một thời kỳ nhập siêu triền miên trong quan hệ thương mại với Nhật sau này. Vấn đề Campuchia vào cuối năm 1978 đã đẩy quan hệ Việt Nam – Nhật Bản rơi vào tình trạng bất ổn. Dưới sức ép của Mỹ và áp lực từ các nước đồng minh, Nhật Bản đã quyết định đình chỉ viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam kể từ tháng 12/1978 và bắt đầu sử dụng viện trợ kinh tế như một điều kiện về chính trị làm áp lực đối với Việt Nam. Một mặt, Nhật áp dụng chính sách “Trừng phạt Việt Nam” để giữ mối quan hệ hợp tác với Mỹ và các nước phương Tây, mặt khác vẫn duy trì chính sách “Hướng về Việt Nam”.
Đặc trưng nổi bật trong chính sách của Nhật trong thời kỳ này là thực hiện chủ trương “đông cứng” tài trợ kinh tế và dừng mọi hoạt động hợp tác kinh tế cấp chính phủ nhưng không đình chỉ các cuộc tiếp xúc ngoại giao, viện trợ nhân đạo và hoạt động kinh doanh giữa các doanh nghiệp hai nước. Với nhận định Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên phong phú, lao động dồi dào, cần cù, khéo léo, giá nhân công rẻ và là thị trường hứa hẹn 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiều tiềm năng cho việc tiêu thụ sản phẩm nên khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn 1986-1988, Chính phủ Nhật đã bật đèn xanh cho phép các doanh nghiệp Nhật Bản vào Việt Nam thăm dò thị trường, tìm kiếm đối tác hợp tác kinh doanh. Từ năm 1986, KNXNK Việt – Nhật có xu hướng tăng trưởng trở lại và năm 1988- năm đầu tiên Việt Nam xuất khẩu dầu thô sang Nhật. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng vọt đạt 390 triệu USD tăng 20,7% so với năm 1987.Danh sách 5 bạn hàng thƣơng mại lớn nhất của Việt Nam (1978-1989) Tỉ trọng %trong tổng kim Nƣớc Xếp hạng ngạch xuất khẩu Liên Xô 60,9% 1 Nhật Bản 7,7 2 Hồng Kông 3,4 3 Pháp 3,0 4 Singapo 2,9 5 [33, tr.
84] Trong 5 bạn hàng lớn nhất của thương mại Việt Nam, các nước thuộc XHCN thì Liên Xô là bạn hàng lớn nhất của Việt Nam. Còn các nước thuộc TBCN thì Nhật Bản trở thành bạn hàng lớn nhất vượt qua cả Pháp. So với Liên Xô thì tổng kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản còn rất khiêm tốn. Tuy nhiên đây cũng là những dấu hiệu tốt trong thương mại của Việt Nam với Nhật Bản.
Việt Nam thấy rằng ngoài các nước XHCN muốn phát triển kinh tế cần quan hệ với các nước ngoài XHCN. Tháng 11/1991, Liên đoàn các tổ chức kinh tế Nhật Bản (KEIDAREN) đã cùng với phía Việt Nam thành lập “Ủy ban Kinh tế Việt – Nhật” nhằm mở rộng giao lưu kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản. Với những nỗ lực như trên, 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tổng KNXNK Việt – Nhật năm 1991 đã tăng 70,3% so với năm 1989 đạt 879 triệu USD. Thương mại là lĩnh vực phát triển nhất trong quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản.
Trong vòng 19 năm (1973-1991), tổng KNXNK Việt – Nhật đạt 5120 triệu USD. Từ khi Việt Nam tiến hành đổi mới, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật tăng nhanh. Năm 1986 đạt 83 triệu USD đến năm 1991 đã lên tới 662 triệu USD, tăng 697,6%. Nhật Bản vươn lên là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam thay thế dần vị trí của Liên Xô (cũ).2: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Nhật Bản (1973-1991).
Đơn vị: triệu USD Kim Kim Tỷ lệ tăng so Trị giá Tổng kim Năm ngạch ngạch với năm trƣớc xuất ngạch XNK XK NK (%) siêu 1973 8 5 13 - 3 1974 30 21 51 329,3 9 1975 28 65 93 182,4 -37 1976 49 167 216 232,3 -118 1977 73 173 246 113,9 -100 1978 52 229 281 114,2 -177 1979 48 116 164 58,4 -68 1980 49 111 160 97,6 -62 1981 37 109 146 91,3 -72 1982 36 93 129 88,4 -57 1983 38 119 157 121,7 -81 1984 51 119 170 108,3 -68 1985 65 149 214 125,9 -84 1986 83 189 272 127,1 -106 1987 144 179 323 118,8 -35 1988 196 194 390 120,7 2 1989 347 169 516 132,3 178 1990 595 214 809 156,8 381 1991 662 217 879 108,7 445 (Nguồn: Thống kê của Bộ Tài chính Nhật Bản và Tổ chức xúc tiến mậu dịch Nhật Bản – JETRO năm 1991). 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam có phần chậm hơn so với quan hệ thương mại. Năm 1989 là năm đầu tiên Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam. Sau khi Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam được ban hành (29/12/1987), dòng vốn FDI từ Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam mới có khoảng gần 1 triệu USD, mở đầu là dự án đầu tư của công ty Kara vào tháng 3/1990.
Tính đến năm 1991, Nhật Bản mới đầu tư vào Việt Nam khoảng 20 dự án với tổng số vốn là 103 triệu USD, đứng thứ chín trong số các đối tác đầu tư vào Việt Nam. Các dự án đầu tư chủ yếu nhằm vào lĩnh vực du lịch, dịch vụ với quy mô lớn Viện trợ phát triển chính thức ODA của Nhật Bản cho Việt Nam đã bị ngừng lại từ cuối năm 1978, trong giai đoạn 1980-1991 Nhật Bản chỉ cấp cho Việt Nam các khoản viện trợ nhân đạo nhỏ lẻ khoảng 130000 USD. Tóm lại, quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản trong giai đoạn trước năm 1992 được duy trì, bắt đầu có dấu hiệu khởi sắc nhưng không ổn định. Hoạt động thương mại được coi là lĩnh vực phát triển nhất trong giai đoạn này.
Từ năm 1992 đến năm 1996, quan hệ kinh tế giữa hai nước có dấu hiệu của sự phát triển. Sự sụp đổ của mô hình XHCN ở Liên Xô và Đông Âu trước đây làm cho hoạt động ngoại thương của Việt Nam gặp nhiều khó khăn do mất đi một thị trường lớn với các bạn hàng truyền thống. Giải quyết vấn đề này, chính phủ Việt Nam chủ trương tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hơn nữa cơ chế quản lý và chính sách kinh tế đối ngoại theo hướng đa dạng hóa và đa phương hóa. Nhiều văn bản, chính sách mới về hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài được Chính phủ ban hành.
Việt Nam tạo mọi điều kiện thuận lợi và kêu gọi các đối tác nước ngoài vào làm ăn kinh tế với Việt Nam, trong đó có Nhật Bản. Với những nỗ lực của cả hai bên, quan hệ kinh tế Việt – Nhật có bước tiến mới. Giai đoạn này quan hệ kinh tế giữa hai nước phát triển trên cả 3 lĩnh vực: thương mại, ODA và đầu tư trực tiếp. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tháng 12/1992, chính phủ Nhật tuyên bố hủy bỏ quy chế “Hạn chế xuất khẩu một số hàng hóa kĩ thuật cao, hàng chất lượng sang các nước XHCN trong đó có Việt Nam” được áp dụng từ năm 1977.
Đây là cơ sở cho mối quan hệ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản sau này. Tháng 2/1993, Liên đoàn các tổ chức kinh tế Nhật Bản (KAIDAREN) phối hợp với Việt Nam tổ chức Hội nghị kinh tế hỗn hợp Nhật – Việt tại Hà Nội. Hội nghị này sau đó đã trở thành một diễn đàn thường niên giữa hai nước trao đổi ý kiến, đề xuất các biện pháp nhằm giải quyết các vướng mắc, thúc đẩy phát triển toàn diện quan hệ kinh tế giữa hai nước. Tháng 3/1993, sau chuyến thăm Nhật Bản của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Nhật Bản cũng đã quyết định tái lập bảo hiểm thương mại trung và dài hạn, mở thêm bảo hiểm đầu tư đối với các dự án đầu tư của Nhật Bản với Việt Nam.
Đây là một hành động thiết thực thúc đẩy quan hệ thương mại đầu tư giữa hai nước. Tháng 10/1993, Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) đã mở văn phòng đại diện tại Hà Nội. JETRO đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp giữa các cơ quan chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam tiến hành nhiều hoạt động nhằm xúc tiến giao lưu thương mại và đầu tư giữa hai nước. Ngày 3/2/1994 “Lệnh cấm vận thương mại” Việt Nam của Mỹ bị xóa bỏ.
Điều này đã tạo điều kiện cho quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản hoàn toàn được công khai thực sự không còn gặp trở ngại. Nếu năm 1991, kim ngạch buôn bán hai chiều Việt Nam – Nhật Bản là 879 triệu USD thì sang năm 1992, giá trị buôn bán Việt – Nhật đã tăng mạnh và liên tục, đạt 1321 triệu USD tăng 50,3% so với năm trước và lên đến 2637 triệu USD vào năm 1995. Tháng 11/1992, Nhật Bản đã ký kết hiệp định trong đó cam kết cho Việt Nam một khoản tín dụng ưu đãi bằng hàng hóa trị giá 45,5 tỷ Yên. Khoản viện trợ này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đánh dấu sự kiện Nhật Bản nối lại viện trợ phát triển chính thức cho Việt Nam sau suốt 13 năm gián đoạn (1979-1991).
19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1993, Việt Nam xếp thứ 9 trong số các nước nhận viện trợ không hoàn lại của Nhật Bản với số vốn khoảng 6,720 triệu Yên. Bước sang năm 1994, Việt Nam đứng thứ 12 trong số các nước nhận viện trợ không hoàn lại của Nhật Bản với số tiền 58,76 triệu USD. Đến đầu năm 1995, Nhật Bản cho Việt Nam vay 165 tỷ Yên [28] Nhật không chỉ mở rộng vốn ODA cho Việt Nam mà còn gia tăng cả mức đầu tư trực tiếp. Năm 1992, tổng đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam đã tăng lên, đạt 310 triệu USD, đứng vị trí thứ tư.
Năm 1993 đạt 423 triệu USD, đứng vị trí thứ 6 [33, tr. Đạt được kết quả này là do tác động của chuyến thăm của Đoàn điều tra hợp tác kinh tế của Chính phủ Nhật Bản sang Việt Nam vào tháng 1/1992. Chuyến thăm này đã góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế mà đặc biệt là quan hệ đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam. Đầu tư của các công ty Nhật Bản vào Việt Nam bắt đầu gia tăng và đỉnh cao vào năm 1995 với 65 dự án với số vốn đăng kí là 1,22 tỷ USD (chuyển từ vị trí thứ 5 năm 1994 sang vị trí thứ 3 trong năm 1995 sau Đài Loan và Hồng Kông).
Như vậy, kể từ khi Việt Nam và Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao (năm 1973), mối quan hệ hai nước đã từng trải qua những bước thăng trầm trong sự phát triển. Nước Việt Nam thống nhất vào ngày 30/4/1975 đã mở ra triển vọng trong quan hệ Việt – Nhật, đặc biệt phát triển trên các lĩnh vực kinh tế.