Luận văn thạc sĩ về quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ (1991-2011)

Luận văn thạc sĩ phân tích quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ giai đoạn 1991-2011, nêu bật cơ hội và thách thức.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Quan hệ quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2015

106
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỐI QUAN HỆ KINH TẾ CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC QUỐC GIA NAM MỸ

1.1. Quan hệ chính trị giữa Việt Nam và các nước Nam Mỹ

1.2. Chính sách hội nhập và quan hệ Kinh tế đối ngoại của Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ

1.3. Các quốc gia Nam Mỹ

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC QUỐC GIA NAM MỸ

2.1. Cơ chế hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nam Mỹ

2.1.1. Ủy ban Liên chính phủ hoặc Ủy ban hỗn hợp

2.1.2. Diễn đàn Hợp tác Đông Á- Mỹ Latinh (FEALAC)

2.1.3. Hiệp định thương mại tự do đầu tiên giữa Việt Nam và khu vực Mỹ Latinh: FTA Việt Nam- Chile

2.2. Thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ

2.3. Quan hệ kinh tế song phương giữa Việt Nam và một số quốc gia khu vực Nam Mỹ

3. CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TRIỂN VỌNG QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC QUỐC GIA KHU VỰC NAM MỸ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020

3.1. Thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển và đẩy mạnh hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ

3.2. Cơ hội và thách thức trong việc phát triển mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và các quốc gia khu vực Nam Mỹ

3.3. Các phương hướng, biện pháp nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt Nam-Mỹ Latinh trong bối cảnh mới nhằm tận dụng những cơ hội và thách thức mới

3.3.1. Mục tiêu tổng quan

3.3.2. Các phương hướng lớn

3.3.3. Đề xuất các nhóm giải pháp cụ thể

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quan hệ kinh tế Việt Nam Nam Mỹ giai đoạn 1991 2011

Giai đoạn từ 1991 đến 2011, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ đã có những bước phát triển đáng kể. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với toàn bộ 12 quốc gia Nam Mỹ, mở ra cơ hội hợp tác kinh tế và thương mại. Sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu giữa hai bên cho thấy tiềm năng to lớn trong việc phát triển mối quan hệ này. Các hiệp định thương mại tự do và các cơ chế hợp tác đã được ký kết, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thúc đẩy thương mại và đầu tư.

1.1. Những cột mốc quan trọng trong quan hệ Việt Nam Nam Mỹ

Trong giai đoạn này, nhiều cột mốc quan trọng đã đánh dấu sự phát triển của quan hệ Việt Nam - Nam Mỹ. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với các quốc gia như Argentina, Brazil, và Chile. Các chuyến thăm cấp cao giữa lãnh đạo hai bên đã tạo ra nền tảng vững chắc cho sự hợp tác kinh tế. Đặc biệt, hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Chile vào năm 2011 đã mở ra cơ hội mới cho hàng hóa Việt Nam thâm nhập vào thị trường Nam Mỹ.

1.2. Tình hình thương mại giữa Việt Nam và Nam Mỹ

Thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ đã có sự gia tăng đáng kể trong giai đoạn này. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nam Mỹ đạt 1,1 tỷ USD vào năm 2011, tăng 32% so với năm 2010. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu bao gồm nông sản, thủy sản và hàng tiêu dùng. Ngược lại, Việt Nam cũng nhập khẩu nhiều sản phẩm từ Nam Mỹ, đặc biệt là nguyên liệu thô và hàng hóa công nghiệp.

II. Vấn đề và thách thức trong quan hệ kinh tế Việt Nam Nam Mỹ

Mặc dù có nhiều tiềm năng, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Nam Mỹ vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa và khoảng cách địa lý là những rào cản lớn. Hơn nữa, sự cạnh tranh từ các quốc gia khác trong khu vực cũng tạo ra áp lực cho Việt Nam trong việc mở rộng thị trường tại Nam Mỹ. Để vượt qua những thách thức này, cần có những chiến lược hợp tác hiệu quả hơn.

2.1. Rào cản ngôn ngữ và văn hóa

Ngôn ngữ và văn hóa khác biệt giữa Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ đã tạo ra những khó khăn trong việc giao tiếp và hợp tác. Việc thiếu hiểu biết về thị trường và thói quen tiêu dùng của người dân Nam Mỹ cũng là một thách thức lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi thâm nhập vào thị trường này.

2.2. Cạnh tranh từ các quốc gia khác

Sự cạnh tranh từ các quốc gia khác trong khu vực Mỹ Latinh, như Brazil và Argentina, cũng là một thách thức không nhỏ. Những quốc gia này đã có những mối quan hệ thương mại lâu dài và vững chắc với các nước trong khu vực, điều này khiến cho việc thâm nhập của hàng hóa Việt Nam trở nên khó khăn hơn.

III. Phương pháp và giải pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt Nam Nam Mỹ

Để thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Nam Mỹ, cần áp dụng nhiều phương pháp và giải pháp khác nhau. Việc tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực như thương mại, đầu tư và văn hóa là rất cần thiết. Các hiệp định thương mại tự do và các cơ chế hợp tác đa phương cũng cần được khai thác triệt để để tạo ra môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp hai bên.

3.1. Tăng cường hợp tác thương mại

Việc ký kết các hiệp định thương mại tự do sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam thâm nhập vào thị trường Nam Mỹ. Cần có các chương trình xúc tiến thương mại để giới thiệu sản phẩm Việt Nam đến với người tiêu dùng Nam Mỹ, từ đó tăng cường kim ngạch xuất khẩu.

3.2. Hợp tác đầu tư và phát triển

Khuyến khích đầu tư từ các doanh nghiệp Nam Mỹ vào Việt Nam và ngược lại là một trong những giải pháp quan trọng. Cần tạo ra các chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư, đồng thời tổ chức các hội thảo, diễn đàn để kết nối doanh nghiệp hai bên.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quan hệ Việt Nam Nam Mỹ

Nghiên cứu về quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Nam Mỹ đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Các doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu thâm nhập vào thị trường Nam Mỹ, mở rộng cơ hội xuất khẩu. Hơn nữa, việc hợp tác trong các lĩnh vực như nông nghiệp, công nghệ và giáo dục cũng đã mang lại nhiều lợi ích cho cả hai bên. Những kết quả này cho thấy tiềm năng lớn trong việc phát triển mối quan hệ này trong tương lai.

4.1. Kết quả xuất khẩu và nhập khẩu

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nam Mỹ đã tăng trưởng mạnh mẽ, với nhiều mặt hàng chủ lực như cà phê, hải sản và hàng tiêu dùng. Ngược lại, Việt Nam cũng đã nhập khẩu nhiều nguyên liệu từ Nam Mỹ, tạo ra sự cân bằng trong thương mại.

4.2. Hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp

Hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp giữa Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Các chương trình trao đổi kỹ thuật và công nghệ đã giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp của cả hai bên.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của quan hệ Việt Nam Nam Mỹ

Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Nam Mỹ trong giai đoạn 1991-2011 đã có những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần có những chiến lược hợp tác hiệu quả hơn trong tương lai. Việc khai thác tiềm năng của thị trường Nam Mỹ sẽ là một trong những ưu tiên hàng đầu của Việt Nam trong chính sách đối ngoại.

5.1. Triển vọng phát triển trong tương lai

Với tiềm năng to lớn của thị trường Nam Mỹ, Việt Nam có thể mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế trong nhiều lĩnh vực. Các hiệp định thương mại tự do sẽ là cơ hội để hàng hóa Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào thị trường này.

5.2. Định hướng chính sách đối ngoại

Định hướng chính sách đối ngoại của Việt Nam cần tập trung vào việc tăng cường hợp tác với các quốc gia Nam Mỹ. Việc xây dựng các mối quan hệ đối tác chiến lược sẽ giúp Việt Nam nâng cao vị thế trên trường quốc tế.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh quan hệ kinh tế giữa việt nam và các quốc gia thuộc khu vực nam mỹ giai đoạn 1991 2011

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỐI QUAN HỆ KINH TẾ CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC QUỐC GIA NAM MỸ 1.1 Quan hệ chính trị giữa Việt Nam và các nước Nam Mỹ Do những điều kiện lịch sử và địa lý, quan hệ của Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ mới chỉ phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Thời kỳ trước năm 1975, một số nước dưới chế độ độc tài cực hữu và thân Mỹ đã công nhận chính quyền Sài Gòn. Một số nước không công nhận chính quyền Sài Gòn nhưng cũng không công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết lập quan hệ chính thức với Chile dưới thời kỳ tổng thống Allende (06/1972 – 09/1973) và với Argentina năm 1973. Tuy không có quan hệ ngoại giao, cuộc đấu tranh chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam trong thời kỳ này đã nhận được sự cảm thông sâu sắc và mạnh mẽ của lực lượng dân tộc, dân chủ và cách mạng của các nước Nam Mỹ.

Điển hình là trong thời kỳ kháng chiến cứu nước của nhân dân Việt Nam(1964), phong trào đoàn kết và ủng hộ Việt Nam phát triển mạnh và rộng khắp ở Venezuela. Một trong những biểu hiện sinh động của phong trào này là sự kiện các du kích quân Venezuela đã bắt trung tá tình báo Mỹ Michael Smolen để đánh đổi tự do cho Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. Sau năm 1975, đã có thêm 3 nước Nam Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam là Guyana (1975), Colombia (1979), và Ecuado (1980). Đồng thời lúc này đã số các nước Nam Mỹ ủng hộ việc kết nạp Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc và phê phán thái độ cản trở Việt Nam của Hoa Kỳ.

Từ năm 1986, Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới và đạt nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, từng bước khai thông quan hệ với Hoa Kỳ. Quan hệ của Việt Nam và các nước Nam Mỹ cũng có những bước chuyển biến nhất định. Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sau đó cũng có thêm một số nước thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam là Uruguay (1993), Peru (1994), Paraguay(1995), Suriname (1997), và Chile (2001).

Hiện nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với toàn bộ 12 quốc gia Nam Mỹ. Quan hệ của Việt Nam với các quốc gia Nam Mỹ có một số đặc điểm nổi bật. Trên phương diện lịch sử - chính trị, Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ đều là các nước thuộc địa và bị can thiệp từ nước ngoài vì thế có chung mục tiêu đấu tranh chống ách đô hộ của thực dân và can thiệp của nước ngoài vì độc lập, tự do và chủ quyền dân tộc. Vì vậy hai bên có những thông cảm nhất định và ủng hộ lẫn nhau.Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ đều được xếp hạng là những nước đang phát triển.Trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay, hai bên đều mong muốn tăng cường và mở rộng quan hệ trên các lĩnh vực, đặc biệt là quan hệ hợp tác kinh tế và thương mại.

Sự hợp tác giữa Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ tạo điều kiện học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, khai thác thế mạnh của cả hai bên về nguồn nhiên liệu, lực lượng lao động, trình độ khoa học công nghệ, và thị trường tiêu thụ hàng hóa, ở một mức độ nhất định đã góp phần giảm sự lệ thuộc vào các cường quốc kinh tế đặc biệt là Hoa Kỳ. Để tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ, hai bên đã trao đổi nhiều đoàn viếng thăm cấp cao trong thời gian qua, cũng như đã đàm phán và ký kết nhiều hiệp định khung về hợp tác kinh tế, thương mại, khuyến khích và bảo hộ đầu tư, hợp tác văn hóa giáo dục, khoa học kỹ thuật , tạo khuôn khổ pháp lý cho việc thúc đẩy tăng cường quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực ví dụ như : - Với Argentina : Nổi bật về phía Argentina có các đoàn Bộ trưởng Ngoại giao, Ngoại thương và Tôn giáo Gui-đô Đi Tê-la (6/1996), Tổng thống Các-lốt Mê-nem (2/1997), Bộ trưởng Tư pháp G. Cam-pô (1999), Phó Chủ tịch Ủy ban Đối 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngoại Hạ viện R. Về phía Việt Nam có đoàn Thứ trưởng Ngoại giao Lê Mai (10/1993), Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Hoàng Bích Sơn (7/1994), Tổng thanh tra Nhà nước Tạ Hữu Thanh (6/1998), Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (9/1999), Bộ trưởng Văn hoá và Thông tin Nguyễn Khoa Điềm (2000), Chủ tịch nước Trần Đức Lương (11/2004), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (3/2006), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng (4/2010), Thứ trưởng Ngoại giao Đoàn Xuân Hưng (3/2011 và 8/2011), Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban chỉ đạo cải cách Tư pháp Trung ương Lê Thị Thu Ba (11/2011).

Hai nước đã khôi phục lại hoạt động của Ủy ban Hợp tác liên chính phủ (thành lập từ năm 1999), tiến hành khóa họp II tại Brunos Aires (5/2009) và tổ chức khoá họp III dự kiến tại Hà Nội (10/2012). Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư, Hợp tác Kinh tế-Thương mại, Hợp tác Công và Nông nghiệp, Hợp tác Thú y, Tham khảo chính trị giữa hai Bộ Ngoại giao (1996), Hợp tác Khoa học-Công nghệ, Hợp tác hai ngành Thanh tra (1997), Hợp tác Thể thao (1999), Hợp tác Văn hóa-Giáo dục, Hợp tác Sử dụng Năng lượng Hạt nhân vào Mục đích Hòa bình (2002), thoả thuận hợp tác về dầu khí giữa PVN và ENARSA, MOU cấp Bộ về hợp tác trong lĩnh vực năng lượng và dầu khí (3/2009), Tuyên bố chung cấp cao, Hiệp định cấp Chính phủ về Hợp tác Năng lượng, Bản Ghi nhớ hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao về đàm phán kinh tế - thương mại và Chương trình hợp tác 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com văn hóa giai đoạn 2010-2012 giữa hai Bộ Văn hóa (4/2010), Hiệp định Khung về hợp tác kỹ thuật (8/2011). - Với Brazil : Về phía Việt Nam, nổi bật là các Đoàn Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (5/2007), Chủ tịch nước Lê Đức Anh (10/1995) và Trần Đức Lương (11/2004), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (3/2006), và nhiều đoàn cấp Phó Thủ tướng, Bộ/Thứ trưởng thăm Brazil; Về phía Brazil, có đoàn Tổng thống Lula Da Silva(7/2008), Đoàn Quốc hội - Ngoại giao - Thương mại do Chủ tịch Hạ viện Aldo Rabelo dẫn đầu (10/2003), Bộ trưởng Ngoại giao Celso Amorin (2/2008), Thứ trưởng Ngoại giao Gomez de Mattos (11/2007), Thứ trưởng Bộ Phát triển và Công thương Ivan Ramalio (9/2007), một số đoàn Quốc hội, Bộ/ngành và doanh nghiệp thăm Việt Nam. Quan hệ văn hóa có bước phát triển mới: Bộ trưởng Văn hóa – Thể thao – Du lịch Hoàng Tuấn Anh thăm Brazil (10/2009) thống nhất triển khai chương trình hợp tác văn hóa giai đoạn 2010 -2012 và dự Tuần văn hóa Việt Nam tại Brazil; Hội nghị sỹ Brazil-Việt Nam (thành lập từ 20/4/1999) đã hoạt động trở lại do Hạ nghị sĩ Colbenr làm Chủ tịch.

Hai bên đã ký Thoả thuận về tham khảo chính trị giữa hai Bộ Ngoại giao, Hiệp định về hợp tác văn hoá, Thoả thuận về hợp tác giữa hai Phòng Thương mại, Thoả thuận về trao đổi công hàm dành cho nhau quy chế Tối huệ quốc, Thoả thuận về miễn thị thực cho người mang hộ chiếu ngoại giao, Hiệp định về Hợp tác Y tế và Y học, Bản Ghi nhớ thành lập Ủy ban hỗn hợp, Hiệp định khung về hợp tác khoa học - công nghệ và Bản Ghi nhớ về hợp tác chống đói nghèo; Bản Ghi nhớ về hợp tác thể thao; Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) và Ngân hàng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trong khóa họp đầu tiên của Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam-Brazil tại Brazil (5/2009), hai bên đã ký Biên bản Thỏa thuận và tiếp tục thúc đẩy đàm phán các Hiệp định, Thoả thuận khác.Về hợp tác đa phương, Brazil đã ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO, ứng cử làm UV không thường trực HĐBA/LHQ khoá 2008-2009; Việt Nam khẳng định ủng hộ Brazil ứng cử làm Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ nhiệm kỳ 2010-2011 và trở thành Ủy viên Thường trực HĐBA/LHQ mở rộng - Với Colombia : Việt Nam và Colombia đang xây dựng và đàm phán hiệp định hợp tác Kinh tế và Kỹ thuật Việt Nam - Colombia - Với Uruguay : Về phía Việt Nam, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan thăm chính thức Uruguay (05/2009); Về phía Uruguay, Chuyến thăm của Tổng thống Tabare Vazquez, nguyên thủ đầu tiên của Uruguay thăm chính thức Việt Nam(11/2007) - Với Chile : Về phía Việt Nam thăm Chile gồm: Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (9/1999), Thủ tướng Phan Văn Khải (10/2002), Chủ tịch nước Trần Đức Lương (11/2004), TBT Nông Đức Mạnh (5/2007) Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (2009); Các đoàn Chile thăm Việt Nam: Tổng thống Chi-lê Ri-các-đô La-gốt (10/2003), Tổng thống Chi-lê Michen Ba-chê-lê nhân dịp dự Hội nghị Cấp cao APEC 14 (11/2006); Phó Chủ tịch Thượng viện Chile Ma-ri-ô Ri-ốt (7/2000), Thứ trưởng Ngoại giao Thường trực Chi-lê H. Mu-nhốt (10/2000), Phó Chủ tịch Thượng viện Chi-lê Ma-ri-ô Ri-ốt (9/2001), Bộ trưởng Ngoại giao Chi-lê I.Tổng thống Xê-bát-xti-an Pi-nhê-ra Ê-chê-ni- kê (từ ngày 21 – 25/3/2012) 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt Nam và Chi-lê đã ký các Hiệp định Hợp tác Kinh tế - Thương mại (11/1993); Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư, Thoả thuận Tham khảo Chính trị và Hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao (9/1999); Bản ghi nhớ về Hợp tác Văn hoá - Giáo dục (12/2000); Kiểm dịch Động vật; Nghị định thư Hợp tác trong lĩnh vực mỏ và Thoả thuận Hợp tác giữa 2 Phòng Thương mại và Công nghiệp (10/2002); Miễn thị thực đối với hộ chiếu ngoại giao và công vụ (10/2003); Hợp tác Nghề cá và ý định thư về đàm phán đi đến ký kết Hiệp định Hợp tác Khoa học-Công nghệ (11/2004); Thỏa thuận Hợp tác về Du lịch (1/2006); Hợp tác Khoa học-Công nghệ và Thỏa thuận thành lập Uỷ ban hợp tác liên chính phủ Việt Nam-Chi-lê (5/2007); “Ý định thư lập Nhóm nghiên cứu chung về đàm phán Hiệp định Thương mại tự do song phương” và tiến tới lập “Uỷ ban hợp tác liên chính phủ” (11/2006). Chi -lê ủng hộ Việt Nam vào Uỷ ban Kinh tế và Xã hội của Liên Hợp Quốc - ECOSOC (10/1997), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương - APEC (1998), ký Thoả thuận kết thúc đàm phán song phương về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO, ủng hộ Việt Nam ứng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2008-2009.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ