LỜI MỞ ĐẦU Xuất hiện từ thế kỷ XVII và bùng nổ mạnh mẽ cho đến tận bây giờ, Thị trường chứng khoán vẫn luôn là một phần quan trọng của nền kinh tế toàn cầu và được coi là một trong những phương tiện đầu tư quan trọng nhất, thúc đẩy sự phát triển và là lăng chiếu rõ nét cho tình hình kinh tế của một quốc gia. So với các quốc gia trên thế giới như Hà Lan (1720), Mỹ (1790) hay các nước trong khu vực như Nhật Bản (1978), Hàn Quốc, Trung Quốc,. Thị trường chứng khoán phát hành ở Việt Nam có phần chậm trễ hơn (1988), nhưng thị trường này đã hỗ trợ rất tốt cho công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và cùng với hệ thống tín dụng của ngân hàng, từ đó tạo ra một cơ cấu thị trường vốn Việt Nam hiệu quả hơn, cân đối hơn, hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế. Trước sức ảnh hưởng đặc biệt của Thị trường chứng khoán tại Việt Nam, nhóm 1 quyết định thực hiện đề tài “Quá trình ra đời và phát triển của Thị trường chứng khoán Việt Nam” để tìm hiểu sâu hơn về quá trình hình thành, các chặng đường phát triển cũng như những thách thức triển vọng của Thị trường chứng khoán tại Việt Nam trong giai đoạn 1988 - 2023, từ đó đề ra một số giải pháp để đương đầu 2 với thách thức và những định hướng của Thị trường chứng khoán nước nhà trong tương lai.
Lịch sử hình thành và phát triển của Thị trường chứng khoán Việt Nam 1. Diễn biến các hoạt động trước khi Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời 1. Các hoạt động chứng khoán sơ khai (1988-1995) Trong giai đoạn từ năm 1988 đến 1995, các hoạt động chứng khoán ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nền kinh tế mới nổi như châu Á và châu Âu, đang trong giai đoạn phát triển và sơ khai. Nhiều quốc gia đã thành lập hoặc cải cách sàn giao dịch chứng khoán để tạo điều kiện cho việc giao dịch chứng khoán công bằng, minh bạch và hiệu quả hơn.
Các sàn giao dịch chứng khoán đầu tiên đã được thành lập ở nhiều nước, như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Ba Lan và Hungary. Và để đảm bảo hoạt động chứng khoán được điều chỉnh một cách trật tự và an toàn, nhiều quốc gia đã ban hành và cải cách pháp luật và quy định liên quan đến chứng khoán. Các quy định này bao gồm quy định về việc thành lập và hoạt động của các công ty chứng khoán, quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư, quy tắc giao dịch và giám sát Thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, trong 3 giai đoạn này, các hoạt động giao dịch chứng khoán còn khá đơn giản và chủ yếu diễn ra thông qua các sàn giao dịch truyền thống.
Giao dịch chứng khoán được thực hiện chủ yếu thông qua sự tham gia của các công ty chứng khoán, các nhà đầu tư cá nhân và các quỹ đầu tư. Nhiều quốc gia trong thời kỳ này đã tận dụng thời cơ để mở cửa Thị trường chứng khoán đối với các nhà đầu tư vượt qua phạm vi biên giới, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hút vốn đầu tư từ nước ngoài và thúc đẩy sự phát triển của Thị trường chứng khoán trong các quốc gia này. Đồng thời, các quốc gia cũng tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chứng khoán bằng cách tham gia vào các tổ chức và liên minh chứng khoán quốc tế, như Liên minh Chứng khoán Quốc tế (WFE) và Hiệp hội Chứng khoán Châu Á-Thái Bình Dương (ASIFMA), để chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi từ các quốc gia khác. Không nằm ngoài xu hướng này, trong giai đoạn từ năm 1988 đến 1995, Việt Nam cũng đã tiến hành một số hoạt động chứng khoán sơ khai nhằm phát triển Thị trường chứng khoán trong nước.
Ngày 11/07/1988, văn bản pháp lý cao nhất là Nghị định số 48/1988/NĐ-CP về chứng khoán và Thị trường chứng khoán được Chính phủ ban hành , điều đó cho phép sớm có 1 khuôn khổ pháp lý ban đầu để khởi động thị trường, đồng thời bảo đảm được tính linh hoạt, dễ sửa đổi phù hợp với điều kiện ban đầu của Thị trường chứng khoán. Năm 1992 đánh dấu mốc quan trọng khi chứng chỉ quỹ (mutual funds) đã được phát hành tại Việt Nam. Đây là một hình thức đầu tư tập trung các nguồn vốn từ nhiều nhà đầu tư để đầu tư vào các tài sản chứng khoán. Chứng chỉ quỹ giúp nhà đầu tư có thể tham gia vào Thị trường chứng khoán một cách dễ dàng và phân tán rủi ro.
Từ năm 1993, Việt Nam đã mở cửa Thị trường chứng khoán để cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia giao dịch. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài và đóng góp vào sự phát triển của Thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong giai đoạn này, các hoạt động đào tạo và tăng cường nhận thức về chứng khoán đã được triển khai để nâng cao kiến thức và kỹ năng của các nhà đầu tư và các chuyên gia trong lĩnh vực chứng khoán. Cung với đó, các công ty chứng khoán đã được thành lập và phát triển.
Các công ty chứng khoán đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ môi giới, tư vấn đầu tư và hỗ trợ cho các hoạt động giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên, dễ để nhận ra rằng, Thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 1988- 1995 vẫn còn khá nhỏ bé và sơ khai so với các thị trường khác trên thế giới. Các hoạt 4 động chứng khoán tại Việt Nam trong giai đoạn này mới chỉ bắt đầu phát triển và chưa đạt được sự phát triển toàn diện như trong những giai đoạn sau này. Thời kỳ định hình và đặt nền móng cho Thị trường chứng khoán Việt Nam (1996- 2000) Để thực hiện chủ trương này, Chính phủ đã chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cơ sở pháp lý và cơ sở vật chất cho sự hình thành Thị trường chứng khoán tại Việt Nam, trong đó có sự kiện thành lập Ủy ban Chứng khoán nhà nước (UBCKNN) vào tháng 11/1996.
Để tạo môi trường thuận lợi cho việc phát hành, kinh doanh chứng khoán, nhằm khuyến khích việc huy động các nguồn vốn dài hạn trong nước và ngoài nước, đảm bảo cho Thị trường chứng khoán hoạt động có tổ chức, an toàn, công khai, công bằng và hiệu quả, bảo vệ quyền hợp pháp của người đầu tư, ngày 11/7/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và Thị trường chứng khoán quy định việc phát hành chứng khoán ra công chúng, giao dịch chứng khoán và các dịch vụ liên quan đến chứng khoán và Thị trường chứng khoán. Theo đó, thị trường giao dịch tập trung là địa điểm hoặc hệ thống thông tin, tại đó các chứng khoán được mua, bán hoặc là nơi tham khảo để thực hiện các giao dịch chứng khoán. Thị trường giao dịch tập trung được tổ chức từng bước từ Trung tâm giao dịch chứng khoán lên Sở giao dịch chứng khoán. Trung tâm giao dịch chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán có nhiệm vụ tổ chức, quản lý, điều hành việc mua bán chứng khoán; quản lý, điều hành hệ thống giao dịch chứng khoán; cung cấp các dịch vụ hỗ trợ việc mua, bán chứng khoán; dịch vụ lưu ký chứng khoán; đăng ký chứng khoán; thanh toán bù trừ đối với các giao dịch chứng khoán; công bố các thông tin về hoạt động giao dịch chứng khoán; kiểm tra, giám sát các hoạt động giao dịch chứng khoán; thu phí niêm yết chứng khoán, phí thành viên, phí giao dịch, phí cung cấp dịch vụ thông tin và các loại phí dịch vụ khác.
Năm 1998, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trung tâm Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (tiền thân của Sở Giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh ngày 5 nay - PV). Trung tâm chính thức khai trương hoạt động vào ngày 20/7/2000 và có phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/7/2000, đánh dấu sự ra đời chính thức của Thị trường chứng khoán Việt Nam. Sự thành lập chính thức của Thị trường chứng khoán Việt Nam 2.
Nguyên nhân hình thành Thị trường chứng khoán Việt Nam Tư tưởng, quan điểm về việc hình thành thị trường chứng (Thị trường chứng khoán) khoán nhằm tạo kênh huy động vốn phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước đã được Đảng và Nhà nước đặt ra và xác định cụ thể từ đầu những năm 1990. Trong thời kỳ này, vấn đề vốn cho phát triển kinh tế đất nước ngày càng trở nên cấp thiết, trong khi hệ thống các ngân hàng thương mại với tư cách là nguồn vốn ngắn hạn không thể đáp ứng được. Thực tiễn này đòi hỏi phải sớm xây dựng thị trường vốn nhằm thu hút các nguồn vốn trung và dài hạn, trong và ngoài nước phục vụ cho công cuộc đổi mới đất nước. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng bắt đầu thực hiện chủ trương đa dạng hoá sở hữu trong đó cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước giữ vị trí trọng tâm đặt ra yêu cầu phải có Thị trường chứng khoán để hỗ trợ công tác này và giao dịch cổ phiếu sau cổ phần hoá.
Hội nghị đại biểu giữa kỳ khóa VII năm 1994 về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới đã đề ra chủ trương “phát triển các hình thức huy động vốn bằng góp cổ phần, bán cổ phiếu, trái phiếu cho người đầu tư trong nước, thí điểm bán một phần ra thị trường vốn quốc tế; xúc tiến chuẩn bị, từng bước hình thành Thị trường chứng khoán”. Quan điểm và tư duy lý luận về phát triển Thị trường chứng khoán nhằm góp phần hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta tiếp tục ngày càng được thể hiện rõ hơn và liên tục được kế thừa, bổ sung và hoàn thiện hơn qua các kỳ Đại hội. Khai sinh Thị trường chứng khoán Việt Nam và Luật Chứng khoán (2000) Ngày 11/7/1998, Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được khai sinh sau Nghị định số 48/CP của Chính phủ. Đồng thời, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.
6 Hồ Chí Minh (tiền thân của Sở Giao dịch Chứng khoán Hồ Chí Minh - HOSE, tại số 16 Võ Văn Kiệt, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh) được thành lập. Trung tâm chính thức khai trương hoạt động vào ngày 20/7/2000 và có phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/7/2000 với 2 doanh nghiệp niêm yết, 6 công ty chứng khoán thành viên. Ngày này đánh dấu sự ra đời chính thức của Thị trường chứng khoán Việt Nam.