đặt vấn đề khảo sát cách ứng xử của mọi người khi họ TC một lời CK (như một yêu cầu, một lời đề nghị hay một lời mời.) như thế nào với mong muốn tìm ra được phương thức chung biểu hiện HVTC, cụ thể hoá hoạt động đối với loại HVNN này để từ đó có thể đưa ra nhận xét về cách ứng xử, vai trò của ngôn ngữ trong giao tiếp và năng lực thực tế của những người tham gia cuộc thoại. Để làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài, dưới đây, chúng tôi sẽ điểm qua một số vấn đề cơ bản liên quan đến hội thoại và HVNN nói chung và HVTC nói riêng. Hội thoại và hành vi ngôn ngữ 1. Hội thoại và các vấn đề liên quan 1.
Khái niệm hội thoại “Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người.Lênin) Giao tiếp bằng ngôn ngữ có nhiều hình thức: giao tiếp một chiều (độc thoại), giao tiếp hai chiều hoặc nhiều hơn (hội thoại). Giao tiếp hai chiều là hoạt động cơ bản nhất, phổ biến nhất của con người. Giao tiếp hai chiều gồm một người nói, một người nghe và phản hồi trở lại. Giao tiếp hai chiều này được gọi là hội thoại.
Một người nói với chính bản thân mình không gọi là hội thoại. Hội thoại là một hoạt động xã hội. Trong cuộc thoại, khi hoạt động phản hồi nảy sinh, vai trò của hai người tham gia cuộc thoại đã thay đổi. Bên nghe trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe mà G.
Thuật ngữ tương tác ứng với nhiều kiểu tiếp xúc và trao đổi trong xã hội tuỳ vào bối cảnh giao tiếp.08 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.08 8 Nhưng cấu trúc cơ bản của cuộc thoại sẽ là anh nói – tôi nói – anh nói – tôi nói. mà chúng ta đã sử dụng một cách rất quen thuộc. Tương tác nhị phân liên tục này cũng phản ánh quy trình giao tiếp ngôn ngữ nói chung theo mô hình: Nói Nghe (Phương tiện ngôn ngữ) (Phương tiện ngôn ngữ) Hiểu Và như vậy, hội thoại là một sự nỗ lực hợp tác giữa các bên tham thoại. Hội thoại cũng có thể có ba bên hoặc nhiều hơn.
Tuy nhiên hội thoại gồm hai bên là quan trọng nhất. Trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi chỉ đề cập đến hội thoại hai bên (đối thoại). Hoạt động này kéo theo một thoả hiệp (trade-off) giữa lợi ích chung và quyền lợi cá nhân. Những người tham thoại buộc phải tuân theo hoạt động này.
Nếu bạn là một trong hai người tham thoại mà không cung cấp lời đáp, thông tin phản hồi hoặc không bày tỏ thái độ khuyến khích, động viên. thì bạn sẽ nhận được sự đáp lại miễn cưỡng (reluctant). Người tham gia cuộc thoại phải chuẩn bị thật tốt những gì cần thiết để đổi lại điều mà mình mong muốn nhận được. Có nghĩa là bạn biểu lộ sự nhiệt tình với đối tác bao nhiêu thì bạn sẽ nhận được được sự nhiệt tình tương ứng.
Nhưng đôi khi cuộc thoại sẽ trở nên khó chịu (burdensome) bởi người tham thoại cảm thấy mình không nhận được gì khi anh ta đã cố gắng duy trì và làm tất cả cho cuộc thoại đạt kết quả tốt đẹp. Khi ấy, cuộc thoại với anh ta là một sự lãng phí thời gian (a waste of time), vô ích (frustrating), khó chịu (exasperating), bực mình (maddening) và nhiều điều tương tự. Có rất nhiều yếu tố liên quan đến hội thoại. Đỗ Hữu Châu (2001), các cuộc thoại có thể khác nhau ở nhiều khía cạnh: như thời gian, không gian, nơi chốn; số lượng người tham gia; về cương vị tư cách của người tham gia cuộc thoại; về tính chất cuộc thoại; về vị thế giao tiếp; về tính có đích hay không có đích, tính hình thức hay không hình thức; về ngữ điệu hay động tác kèm lời.
Những yếu tố này không tách rời nhau mà liên kết nhau, tạo thành một khối thống nhất hữu quan trong hội thoại, chi phối và điều hoà cuộc thoại để đạt đến đích cuối cùng của mỗi bên giao tiếp theo những quy tắc nhất định.08 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các quy tắc hội thoại. Hội thoại diễn ra theo những quy tắc nhất định. Cái bị chi phối bởi quy tắc của hội thoại có thể là những nghi thức của hội thoại.
Bàn về quy tắc hội thoại, tác giả Orecchioni chia quy tắc hội thoại thành ba nhóm: - Các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời. - Những quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại. - Những quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại. [Dẫn theo 8, 225] Luân phiên lượt lời là nguyên tắc của sự tương tác qua lại trong hội thoại.
Trong cuộc thoại, mỗi lúc có một người nói và không nói đồng thời. Người nói luân phiên nhau và đó là lượt lời (turn). Sẽ không có lượt lời nếu nhiều người nói cùng một lúc. Như vậy, vai nói sẽ thường xuyên thay đổi, trật tự của những người nói không cố định mà luôn thay đổi.
Đồng thời lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai. Khi nói một điều, người ta dự đoán, chờ đợi một điều khác sẽ xảy ra. Nghĩa là hai lượt lời có quan hệ mật thiết với nhau, liên kết chặt chẽ với nhau. Hội thoại là một hình thức hoạt động xã hội nên theo G.Yule [137], lượt lời hoạt động theo một hệ thống điều hành cục bộ (2) (local management system) được hiểu theo lối quy ước giữa thành viên trong một nhóm xã hội.
Đây thực chất là quyước nắm giữ lượt lời, giữ hoặc trao lượt lời cho người đối thoại một cách uyển chuyển. Kiểm soát quyền được nói, chủ động nắm giữ đề tài và lượt lời là một quyền lực đáng kể trong hội thoại, có thể chi phối cuộc thoại. Về quy tắc chi phối hội thoại, theo GS. Nguyễn Đức Dân (1998), những phát ngôn trong một lượt lời là những hành vi hội thoại.
Sự liên kết giữa hai lượt lời là sự liên kết giữa hành vi dẫn nhập và hành vi hồi đáp. Trong hội thoại, HVNN gây ra những dạng HVNN nhất định. Rất nhiều loại phát ngôn trong hội thoại đòi hỏi phải có sự hồi đáp riêng biệt như: hành vi chào yêu cầu một một lời chào trở lại; hành vi hỏi yêu cầu có câu trả lời; hành vi đề nghị cần một phản hồi (chấp nhận/TC); hành vi cảm ơn cần một yêu cầu đáp lời. Một HVNN xuất hiện có thể được tiếp nhận tích cực hoặc tiếp nhận tiêu cực, chấp nhận hoặc TC.
Tất nhiên người tham thoại cũng có thể lờ đi mà không có một biểu đạt ngôn ngữ nào. Với những HVNN đòi hỏi thông tin phản hồi, (LUAN.08 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.08 10 Wardhaugh cho rằng, người tham thoại có quyền lựa chọn cách thức hồi đáp khác nhau: hoặc tuân theo (comply), hoặc từ chối (refuse), hoặc đơn giản là lờ đi (ignore) những gì người ta nói với mình. Nhưng dù tuân theo hành vi dẫn nhập, TC hay lờ đi, người tham thoại vẫn phải có chiến lược giao tiếp và phương tiện biểu đạt trong hành vi hồi đáp của mình. Một số khuôn mẫu về hình thức biểu hiện các hành vi này đã được định sẵn cho người tham thoại lựa chọn.
Nhưng trong hội thoại, sự liên kết các hành vi tại lời chỉ có giá trị trên bề mặt phát ngôn. Sự liên kết các hiệu lực tại lời của 2) Thuật ngữ của GS. Diệp Quang Ban HVNN mới có giá trị đích thực. Có nhiều hình thức biểu đạt ngôn ngữ cùng đem lại một hiệu lực tại lời.
Như vậy, việc lựa chọn hình thức ngôn ngữ cụ thể để biểu hiện một HVNN dẫn đến hiệu lực tại lời là rất quan trọng. Điều này quyết định hiệu quả trong giao tiếp.1) - Chiều đi học về nấu cơm cho em ăn trước, con nhé. TC 1: - Con không nấu được đâu. Chiều nay con phải hoàn thành đồ án rồi.
(TCTT) TC 2: - Thôi mà, mẹ. Chiều nay con phải hoàn thành đồ án rồi. (TCTT nhưng có phần giảm thiểu độ dứt khoát.) TC 3: - Mẹ giúp con với. Chiều nay con phải hoàn thành đồ án rồi.(TCGT bằng lời đề nghị trở lại.) TC 4: - Hay mua cái gì về ăn tạm, mẹ ạ.
Chiều nay con phải hoàn thành đồ án rồi. Trong thực tế, mỗi người chúng ta thường phải lựa chọn một cách nói nào đó đem lại hiệu quả giao tiếp cao nhất chứ không chỉ yêu cầu bằng một mệnh lệnh hoặc TC thẳng thừng. Nghi thức, thói quen, phong tục, tập quán. làm thành quy ước xã hội mà mỗi cá nhân đều cố gắng tuân theo.
Những quy ước này giữ gìn và tạo độ cân bằng trong cuộc thoại, giúp duy trì cuộc thoại, đem lại hiệu quả trong giao tiếp. Những quy ước mang tính nghi thức này được quy định theo một trình tự chặt chẽ với những hành vi cụ thể mà mỗi bên tham gia cuộc thoại cần tuân theo ở mỗi loại hội thoại xác định. Quan hệ cá nhân giữa những người tham thoại cũng có tầm quan trọng đặc biệt trong tương tác hội thoại. Đó là những nhân tố sẵn có trước cuộc tương tác do (LUAN.08 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.08 11 chúng nằm ngoài tương tác.
Chúng liên quan tới quan hệ thân - sơ, quan hệ vị thế xã hội, tuổi tác, quyền lực. và được thể hiện rất khác nhau ở từng cộng đồng người. Nguyễn Đức Dân (1998), quan hệ cá nhân được xem xét dưới các góc độ: - Quan hệ ngang (hay còn gọi là quan hệ thân-sơ). - Quan hệ dọc (hay còn gọi là quan hệ vị thế).
Quan hệ ngang : Quan hệ ngang chỉ rõ mối quan hệ gần gũi, thân cận hay xa cách giữa những người tham gia giao tiếp. Mối quan hệ này có thể thay đổi và điều chỉnh trong quá trình hội thoại, từ sơ đến thân hoặc ngược lại. Hình thức có thể đối xứng, hoặc phi đối xứng. Có nhiều dấu hiệu thể hiện quan hệ ngang: dấu hiệu bằng lời, dấu hiệu cử chỉ điệu bộ hoặc dấu hiệu kèm lời.
Người nói có nhiều công cụ để lựa chọn khi muốn thể hiện quan hệ này một cách thích hợp. Những dấu hiệu bằng lời như hệ thống đại từ xưng hô, từ dùng thưa gửi, cách sử dụng từ tình thái. mang sắc thái quan hệ cá nhân rất rõ ràng. Trong tiếng Anh, các ngôi xưng hô đơn giản hơn trong tiếng Việt, có thể chỉ là cặp từ phản ánh quan hệ You/I (Anh/Tôi) giữa hai người tham gia đối thoại.
Ngược lại hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt rất phong phú như sắc thái của từ tự xưng: tôi - tớ - tao - mình - ông - đây., hay cách gọi người đối thoại trực tiếp là ông (bà) - anh (chị) - ngài - cậu - mày.