Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học "Phương thức biểu hiện hành vi từ chối lời cầu khiến trong tiếng Anh (liên hệ với tiếng Việt)" do nghiên cứu sinh Trần Chi Mai thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (bảo vệ năm 2005). Nghiên cứu thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học, tiếp cận theo hướng ngữ dụng học đối chiếu và giao tiếp liên văn hóa, kết hợp giữa phương pháp phân tích định tính cấu trúc – ngữ nghĩa – ngữ dụng và khảo sát thực nghiệm định lượng.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chính sách mở cửa của Việt Nam, nhu cầu giao tiếp liên văn hóa gia tăng nhanh chóng. Tiếng Anh trở thành công cụ giao tiếp quốc tế chủ yếu với người nước ngoài tại Việt Nam. Quá trình tương tác liên ngữ Anh – Việt đòi hỏi các bên tham thoại không chỉ nắm vững cấu trúc ngữ pháp mà còn phải hiểu sâu sắc các quy ước văn hóa để đạt hiệu quả giao tiếp. Sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa giữa tiếng Anh và tiếng Việt thường tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến xung đột văn hóa hoặc ngừng trệ giao tiếp.

Hành vi từ chối (HVTC) là một hành vi ngôn ngữ có bản chất đe dọa thể diện (Face Threatening Acts – FTA), dễ gây tổn thương mối quan hệ liên cá nhân nếu không được thực hiện khéo léo. Do đó, việc nghiên cứu các phương thức và phương tiện biểu hiện HVTC đối với lời cầu khiến (HVCK) trong tiếng Anh, đồng thời liên hệ đối chiếu với tiếng Việt, là một yêu cầu cấp thiết nhằm làm sáng tỏ các tương đồng và khác biệt trong cách thức ứng xử ngôn từ giữa hai nền văn hóa.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là xác định các phương thức, phương tiện biểu hiện HVTC lời CK trong tiếng Anh với tư cách là hành vi hồi đáp (lượt lời thứ hai trong hội thoại), phân biệt HVTC với các hành vi ngôn ngữ lân cận; đối chiếu với tiếng Việt để chỉ ra nét tương đồng và dị biệt; xem xét các yếu tố tác động và khảo sát thực tế sử dụng của người bản ngữ Anh (NS) cùng người Việt học tiếng Anh (NNS), từ đó rút ra các nhận xét ứng dụng cho công tác giảng dạy và giao tiếp.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm 4 nội dung:

  1. Nghiên cứu và xác định các phương thức, các phương tiện biểu hiện HVTC lời CK; phân biệt HVTC với một số hành vi ngôn ngữ khác.
  2. Đối chiếu các phương thức biểu hiện HVTC lời CK trong tiếng Anh và tiếng Việt, chỉ ra nét tương đồng và khác biệt (những điểm tương ứng và phi tương ứng) giữa hai thứ tiếng.
  3. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến HVTC lời CK trong hai ngôn ngữ (văn hóa, tính phù hợp, thói quen tư duy và sử dụng ngôn ngữ).
  4. Đưa ra một số lưu ý trong giao tiếp Anh – Việt nhằm tránh các xung đột văn hóa và nêu nhận xét về việc sử dụng HVTC giữa NS và NNS nhằm phục vụ công tác giảng dạy ngôn ngữ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các phát ngôn từ chối bằng phương tiện ngôn ngữ thuộc lượt lời thứ hai của đoạn thoại cầu khiến, được xem xét ở bình diện cấu trúc – ngữ nghĩa – ngữ dụng trong giao tiếp ngôn từ.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Luận án chỉ khảo sát các phát ngôn từ chối bằng lời (verbal) xuất hiện ngay sau phát ngôn cầu khiến tiền vị; không khảo sát hành vi từ chối phi lời (non-verbal) như lắc đầu, nhún vai, xua tay; không khảo sát từ chối qua thư từ, điện tín.
    • Luận án không khảo sát các phát ngôn từ chối là lời đáp cho các hành vi hỏi, khen, chê, đánh giá.
    • Ngữ liệu tiếng Anh được khảo sát chung như một chỉnh thể ngôn ngữ, không phân biệt ranh giới phương ngữ địa lý (Anh – Mỹ, Anh – Úc, Anh – Anh hay tiếng Anh tại Singapore, Ấn Độ). Tiếng Anh được chọn làm ngôn ngữ gốc và tiếng Việt làm ngôn ngữ đích để liên hệ, đối chiếu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại

Trong luận án, tác giả đã điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến hành vi ngôn ngữ (HVNN) và hành vi từ chối:

  • Các nghiên cứu đối chiếu hành vi ngôn ngữ Anh – Việt:
    • Nguyễn Văn Quang (1999): Một số khác biệt giao tiếp lời nói Việt-Mỹ trong cách thức khen và tiếp nhận lời khen.
    • Nguyễn Đăng Sửu (2002): Câu hỏi tiếng Anh trong sự đối chiếu với tiếng Việt.
    • Ngũ Thiện Hùng (2003): Khảo sát các phương tiện từ vựng, ngữ pháp biểu đạt tính tình thái nhận thức trong tiếng Anh và tiếng Việt.
    • Nguyễn Phương Chi (2004): Một số đặc điểm ngôn ngữ-văn hoá ứng xử của hành vi từ chối trong tiếng Việt (có sự đối chiếu với tiếng Anh).
  • Các nghiên cứu quốc tế về hành vi ngôn ngữ và từ chối:
    • D. Tannen với các nghiên cứu về giới và giao tiếp hội thoại, quan hệ quyền lực (power) và hòa đồng (solidarity).
    • H. Takahashi với công trình nghiên cứu cách từ chối lời mời và thỉnh cầu trong tiếng Anh và tiếng Nhật (Oral refusals of invitation and requests in English and Japanese).
    • Evangeline S. Varonis và S. Gass với mô hình thương lượng ý nghĩa trong hội thoại giữa người bản ngữ và người phi bản ngữ (Non-native / native conversation: A model for negotiation of meaning).
    • Các công trình nền tảng về dụng học của J.L. Austin (1962), J.R. Searle (1969, 1975), G.N. Leech (1983), H.P. Grice (1975), R. Lakoff (1973), P. Brown và S. Levinson (1978, 1987), S. Blum-Kulka (1987), G. Yule (1996, 2002), W. Labov và D. Fanshel (1977).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án xác định rõ ranh giới nghiên cứu bằng việc so sánh với công trình của Nguyễn Phương Chi (2004). Trong khi luận án của Nguyễn Phương Chi tập trung khảo sát các HVNN nói chung được dùng để đạt đích từ chối trong tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh) trên bình diện chiến lược ngôn ngữ và đặc điểm ngôn hóa - văn hóa, thì luận án của Trần Chi Mai đi sâu vào:

  1. Xác định hệ thống các phương thức và phương tiện biểu hiện HVTC đối với riêng lời cầu khiến (HVCK) bằng phương tiện ngôn ngữ trong tiếng Anh, có liên hệ đối chiếu với tiếng Việt theo 3 nhóm: trực tiếp, gián tiếp quy ước và gián tiếp phi quy ước.
  2. Khảo nghiệm thực tế cách lựa chọn phương thức biểu hiện HVTC của người bản ngữ Anh (NS) và người Việt nói tiếng Anh (NNS) trên cùng một bộ phiếu điều tra tình huống và ghi âm đối thoại trực tiếp, nhằm phát hiện các sai lệch giao tiếp và giải thích cơ chế chuyển di ngôn ngữ – văn hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp các lý thuyết dụng học và phân tích hội thoại:

  • Lý thuyết hội thoại: Khái niệm hội thoại như một tương tác hai chiều; quy tắc điều hành luân phiên lượt lời (turn-taking), cấu trúc hội thoại và quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân (theo C. Kerbrat-Orecchioni, G. Yule, Nguyễn Đức Dân). Khái niệm quan hệ ngang (thân – sơ) và quan hệ dọc (vị thế, quyền lực) chi phối cách sử dụng từ xưng hô và mức độ lịch thiệp.
  • Nguyên tắc cộng tác hội thoại: 4 phương châm hội thoại của H.P. Grice (lượng, chất, quan hệ, cách thức) và cơ chế hình thành hàm ngôn hội thoại.
  • Lý thuyết lịch sự và thể diện: Khung lý thuyết của R. Lakoff (3 quy tắc: không áp đặt, để ngỏ sự lựa chọn, tăng cường tình cảm bằng hữu); lý thuyết thể diện của P. Brown và S. Levinson với khái niệm hành vi đe dọa thể diện (FTA), hành vi tôn vinh thể diện (FFA), lịch sự tiêu cực (né tránh, bù đắp) và lịch sự tích cực. Trong tiếng Việt, tác giả gắn khái niệm lịch sự với các phạm trù lễ độ, lễ nghĩa và lễ phép.
  • Lý thuyết hành vi ngôn ngữ (Speech Act Theory):
    • Phân loại hành vi tạo lời (locutionary), hành vi ở lời (illocutionary) và hành vi mượn lời (perlocutionary) của Austin.
    • Phân loại 5 nhóm hành vi ở lời của Searle (tái hiện, điều khiển, cam kết, biểu cảm, tuyên bố); tiêu chí phân định hành vi trực tiếp và gián tiếp.
    • Phân loại động từ nói năng của A. Wierzbicka (HVTC thuộc nhóm động từ forbid - ngăn cấm) và G. Yule (HVTC thuộc nhóm ước kết).
  • Khái niệm và tiêu chí xác định hành vi cầu khiến: Luận án tiếp thu quan điểm của Chu Thị Thủy An, xem HVCK bao gồm toàn bộ nhóm hành vi điều khiển (directives): ra lệnh, yêu cầu, nhờ vả, xin phép, sai bảo, cấm đoán, ngăn cản, khuyên can, mời mọc, rủ rê, thúc giục.
  • Khái niệm và tiêu chí nhận diện hành vi từ chối: Luận án định vị HVTC là phát ngôn thuộc lượt lời thứ hai biểu thị sự không chấp nhận đối với HVCK tiền vị, có chức năng giữ nguyên hiện trạng của thế giới (theo Nguyễn Phương Chi) và ngăn ngừa sự mở rộng của nội dung cầu khiến.

Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ đề ra, tác giả sử dụng hệ thống các phương pháp:

  • Phương pháp miêu tả: Miêu tả cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa và hiệu lực ngôn trung của các phát ngôn từ chối.
  • Phương pháp phân tích định tính: Phân tích ngữ cảnh hội thoại, cấu trúc cặp thoại trao – đáp, phát hiện các nét nghĩa ổn định và ý nghĩa hàm ẩn.
  • Phương pháp điều tra và phỏng vấn:
    • Sử dụng phiếu điều tra gồm 05 tình huống cầu khiến cho trước để nghiệm thể viết câu đáp từ chối.
    • Nêu tình huống thực tế và tiến hành thu âm các cuộc đối thoại tự nhiên giữa NNS (sinh viên Việt Nam tại Luân Đôn) và NS (người Anh), sau đó bóc băng ghi âm thành văn bản để xử lý.
  • Phương pháp thống kê và lập bảng biểu: Tổng hợp, định lượng tỷ lệ lựa chọn các phương thức biểu hiện HVTC của hai nhóm nghiệm thể NS và NNS.
  • Phương pháp đối chiếu ngôn ngữ: So sánh đối chiếu các cấu trúc biểu hiện giữa tiếng Anh (ngôn ngữ gốc) và tiếng Việt (ngôn ngữ đích) để tìm ra các điểm tương đồng, khác biệt, tương ứng và phi tương ứng.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Tư liệu văn bản: Trích xuất từ các tác phẩm văn học cổ điển và hiện đại bằng tiếng Anh và tiếng Việt; các tác phẩm dịch song ngữ Anh – Việt chứa các đoạn thoại cầu khiến; các đoạn thoại giao tiếp hàng ngày được ghi chép qua quan sát trực tiếp của tác giả.
  • Tư liệu khảo sát thực nghiệm: Dữ liệu thu thập từ các nhóm nghiệm thể:
    • Sinh viên khoa tiếng Anh – Viện Đại học Mở Hà Nội.
    • Sinh viên khoa Kinh tế Đối ngoại – Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội.
    • Cư dân bản ngữ Anh đang sinh sống và làm việc tại Luân Đôn (London).
    • Sinh viên Việt Nam đang theo học đại học và sau đại học tại Luân Đôn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận cho toàn bộ luận án, tập trung vào các nội dung:

  • Phân tích bản chất của hội thoại và các quy tắc điều hành luân phiên lượt lời; làm rõ vai trò của quan hệ cá nhân (quan hệ ngang – thân sơ; quan hệ dọc – vị thế, quyền lực) đối với việc tổ chức cuộc thoại.
  • Trình bày nguyên tắc cộng tác của Grice và các phương châm hội thoại; phân tích nguyên tắc lịch sự theo quan điểm của R. Lakoff, P. Brown và S. Levinson; chỉ ra tính đặc thù của quan niệm lịch sự trong văn hóa ứng xử Việt Nam.
  • Khái quát lý thuyết hành vi ngôn ngữ từ Austin đến Searle; làm rõ cơ chế của hành vi trực tiếp và hành vi gián tiếp; phân tích bản chất của đoạn thoại cầu khiến và các tiêu chí nhận diện HVCK.
  • Phân tích hành vi từ chối: Phân biệt các động từ mô tả hành vi từ chối trong tiếng Anh (refuse, decline, reject, rebuff, renounce, deny...) và tiếng Việt (từ chối, chối từ, khước từ, cự tuyệt); xác lập hệ thống tiêu chí nhận diện HVTC.
  • Phân tích hoạt động thương lượng trong HVTC qua bảng mô hình thương lượng và sơ đồ kết quả (thương lượng dẫn đến chấp nhận, từ chối, trì hoãn hoặc lựa chọn).
  • Phân biệt HVTC với các hành vi lân cận: phân biệt với hành vi phủ định (phủ định $\rightarrow$ từ chối), hành vi bác bỏ (phủ định $\rightarrow$ bác bỏ $\rightarrow$ từ chối), hành vi cấm đoán/ngăn cản (cấm đoán/ngăn cản $\rightarrow$ từ chối).
  • Xác lập mô hình phân loại HVTC theo phương thức biểu hiện đích ngôn trung thành 3 nhóm:
Phương thức từ chối Sử dụng cấu trúc điển hình Dựa vào hàm ý
Từ chối trực tiếp (TCTT) Có (+) Không (-)
Từ chối gián tiếp theo quy ước (TCGT QƯ) Có (+) Có (+)
Từ chối gián tiếp phi quy ước (TCGT PQƯ) Không (-) Có (+)

Chương 2: Phương thức biểu hiện hành vi từ chối trực tiếp trong tiếng Anh (Liên hệ với tiếng Việt)

Chương 2 phân tích các phương tiện biểu đạt TCTT – phương thức mà ý định từ chối được hiển ngôn ngay trên bề mặt cấu trúc cú pháp:

  • Khái niệm và đặc điểm: TCTT bộc lộ trực tiếp lực ngôn trung từ chối, có tính dứt khoát cao và nguy cơ đe dọa thể diện lớn nhất.
  • Hành vi TCTT chỉ chứa thành phần cốt lõi (TPCL):
    • TPCL là động từ ngôn hành: Sử dụng các động từ biểu thị sự từ chối ở ngôi thứ nhất thì hiện tại (I refuse, I decline... trong tiếng Anh; Tôi từ chối, Tôi xin khước từ... trong tiếng Việt).
    • TPCL là từ phủ định: Sử dụng các từ ngữ phủ định trực tiếp (No, Absolutely not, Never, I can't... trong tiếng Anh; Không, Không được, Đâu có được, Thôi... trong tiếng Việt).
  • Hành vi TCTT chứa thành phần cốt lõi kết hợp thành phần mở rộng (TPMR): Để giảm nhẹ tính áp đặt và cứu vãn thể diện cho người đối thoại, người nói thường bổ sung các TPMR đi kèm TPCL:
    • TPMR nêu lý do hoặc lời giải thích (No, I have to finish my report).
    • TPMR bày tỏ sự tiếc nuối vì không thực hiện được nội dung cầu khiến (I'm sorry, but no...).
    • TPMR bày tỏ sự đồng tình trước khi từ chối (I'd love to, but I can't).
    • TPMR bày tỏ thiện chí bằng lời cảm ơn (No, thank you).
    • TPMR đề cao người cùng đối thoại.
    • Cấu trúc kết hợp đồng thời nhiều TPMR để tối đa hóa hiệu quả lịch sự.

Chương 3: Phương thức biểu hiện hành vi từ chối gián tiếp theo quy ước trong tiếng Anh (Liên hệ với tiếng Việt)

Chương 3 khảo sát phương thức TCGT QƯ – phương thức sử dụng các cấu trúc cú pháp không điển hình nhưng đã được quy ước hóa trong hệ thống ngôn ngữ kết hợp với hàm ý:

  • Khái niệm và đặc điểm: Lực ngôn trung từ chối không được thể hiện bằng từ phủ định hay động từ ngôn hành trực tiếp mà thông qua các cấu trúc câu chức năng khác; người nghe nhận biết ý định từ chối dựa vào các tín hiệu cấu trúc ngữ pháp đã được quy ước.
  • Các phương tiện biểu hiện:
    • Thông qua cấu trúc cầu khiến: Người đáp dùng một phát ngôn cầu khiến ngược lại (đề nghị giúp đỡ, hoãn lại, yêu cầu việc khác) để thoái thác yêu cầu ban đầu (Leave me alone; Ask someone else; Mẹ giúp con với; Bác để cho lúc khác...).
    • Thông qua cấu trúc nghi vấn: Người đáp sử dụng câu hỏi chất vấn, hỏi ngược, hỏi thăm dò khả năng hoặc nghi vấn tu từ để biểu thị sự từ chối (Why me?; Can you do it yourself?; Học bài xong chưa mà đi?; Lấy sao được?...).
    • Thông qua cấu trúc trần thuật: Người đáp sử dụng các phát ngôn trần thuật chứa các trợ động từ tình thái hoặc biểu thức chỉ sự bất khả năng đã được quy ước hóa (I am busy; It is impossible; Việc này vượt quá khả năng của em...).

Chương 4: Phương thức biểu hiện hành vi từ chối gián tiếp phi quy ước trong tiếng Anh (Liên hệ với tiếng Việt)

Chương 4 nghiên cứu phương thức TCGT PQƯ – phương thức từ chối hoàn toàn dựa vào ngữ cảnh và hàm ý hội thoại (không có dấu hiệu cấu trúc quy ước sẵn):

  • Khái niệm và đặc điểm: Hình thức diễn đạt để ngỏ; người nghe phải vận dụng nguyên tắc cộng tác, các phương châm hội thoại và tri thức nền về ngữ cảnh để suy ra hàm ý từ chối.
  • Các phương tiện biểu hiện phong phú gồm 12 dạng thức:
    1. Biểu hiện bằng lời đe dọa.
    2. Biểu hiện bằng lời chỉ trích, trách cứ (Bây giờ mà anh còn rủ đi xem, bận chết đi được).
    3. Biểu hiện bằng lời tự vệ.
    4. Biểu hiện bằng lời ngỏ ý cho một lựa chọn khác.
    5. Biểu hiện bằng hình thức câu điều kiện.
    6. Biểu hiện bằng hình thức giả định phản thực (Giá như anh nói sớm hơn...).
    7. Biểu hiện bằng lời hứa (hứa hẹn thực hiện vào dịp khác để thoái thác hiện tại).
    8. Biểu hiện bằng lời nêu lý do thuần túy không kèm từ phủ định.
    9. Biểu hiện bằng cách thức thương lượng quyền lợi.
    10. Biểu hiện bằng cách thức lảng tránh (đổi đề tài, ngắt quãng).
    11. Biểu hiện bằng cách sử dụng ý hàm ẩn, thành ngữ, tục ngữ (Việc nhà thì nhác...).
    12. Biểu hiện bằng cách thức chấp nhận – từ chối hoặc từ chối – chấp nhận (chấp nhận mang tính hình thức rồi đưa ra lý do bác bỏ).

Chương 5: Khảo sát cách lựa chọn phương thức biểu hiện hành vi từ chối của người Anh và người Việt nói tiếng Anh (Trên cứ liệu trắc nghiệm)

Chương 5 trình bày kết quả thực nghiệm khảo sát định lượng trên cứ liệu phiếu điều tra và băng ghi âm:

  • Thiết kế khảo nghiệm: Đưa ra 05 tình huống cầu khiến cụ thể, thu thập phản hồi từ nghiệm thể bản ngữ tiếng Anh (NS) và nghiệm thể người Việt học/nói tiếng Anh (NNS).
  • Phân tích kết quả:
    • Thống kê tỷ lệ phần trăm lựa chọn các phương thức TCTT, TCGT QƯ và TCGT PQƯ giữa hai nhóm đối tượng.
    • Phân tích sự khác biệt: Người bản ngữ Anh (NS) có xu hướng sử dụng các cấu trúc TCGT QƯ và TCTT có kèm TPMR (đặc biệt là lời cảm ơn, lời xin lỗi và nêu lý do ngắn gọn mang tính khách quan) với tần suất cao để bảo đảm phép lịch sự tiêu cực.
    • Người Việt nói tiếng Anh (NNS) có xu hướng chuyển di cấu trúc và thói quen tư duy từ tiếng Việt sang: lạm dụng việc giải thích dài dòng mang tính chủ quan, sử dụng các dạng thức TCGT PQƯ phức tạp hoặc ngược lại, dùng TCTT một cách cứng nhắc do hạn chế về phương tiện tình thái.
  • Lý giải quá trình tiếp nhận và sản sinh lời đáp: Phân tích cơ chế tâm lý – ngôn ngữ và các rào cản giao thoa văn hóa tác động đến việc hình thành phát ngôn từ chối của người học Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về hành vi từ chối lời cầu khiến trong sự tương tác hội thoại; xác lập hệ tiêu chí nhận diện và phân biệt rành mạch HVTC với các hành vi lân cận như phủ định, bác bỏ, cấm đoán/ngăn cản.
  2. Xây dựng mô hình phân loại toàn diện 3 phương thức biểu hiện HVTC (Trực tiếp, Gián tiếp quy ước, Gián tiếp phi quy ước) dựa trên mối quan hệ giữa cấu trúc cú pháp bề mặt và đích ngôn trung.
  3. Làm rõ những nét tương đồng và khác biệt trong cách thức biểu hiện HVTC giữa tiếng Anh và tiếng Việt ở cả bình diện cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa – ngữ dụng; giải thích các tương đồng và dị biệt đó từ góc độ văn hóa, tư duy và chuẩn mực lịch sự của hai cộng đồng.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực nghiệm định lượng về sự khác biệt trong việc lựa chọn chiến lược và phương tiện từ chối giữa người bản ngữ Anh (NS) và người Việt nói tiếng Anh (NNS).
  2. Đóng góp trực tiếp cho công tác giảng dạy tiếng Anh cho người Việt Nam và giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài theo định hướng giao tiếp liên văn hóa; giúp người học nhận biết các bẫy giao tiếp và lựa chọn phương thức biểu đạt phù hợp với quan hệ vị thế, thân sơ.
  3. Cung cấp tư liệu tham khảo hữu ích cho lĩnh vực biên – phiên dịch Anh – Việt trong việc xử lý các phát ngôn mang hàm ý từ chối tế nhị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Luận án chỉ tập trung khảo sát hành vi từ chối bằng phương tiện ngôn ngữ (lời nói) xuất hiện ở lượt lời thứ hai ngay sau phát ngôn cầu khiến tiền vị; chưa khảo sát các phương tiện phi ngôn từ (cử chỉ, nét mặt, điệu bộ) cũng như các hình thức từ chối bằng văn bản viết (thư từ, điện tín).
  • Dữ liệu tiếng Anh được khảo sát chung, chưa phân tách và đối chiếu sâu giữa các biến thể phương ngữ xã hội và phương ngữ địa lý khác nhau của tiếng Anh (như Anh – Mỹ, Anh – Úc).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang hành vi từ chối đối với các hành vi dẫn nhập khác (như từ chối lời khen, từ chối câu hỏi, từ chối lời đánh giá).
  • Nghiên cứu sự kết hợp đồng thời giữa phương tiện ngôn từ và phương tiện phi ngôn từ trong việc thực hiện hành vi từ chối.
  • Khảo sát sâu hơn về tác động của các biến số xã hội học cụ thể (như độ tuổi, giới tính, tầng lớp xã hội) đối với chiến lược lựa chọn phương thức từ chối trong giao tiếp liên văn hóa Anh – Việt.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Thuộc các chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học đối chiếu, Ngữ dụng học và Văn hóa học; đặc biệt có thể tham khảo khung lý thuyết phân loại 3 phương thức từ chối và quy trình phân tích hội thoại.
  • Giảng viên và giáo viên ngoại ngữ: Giảng viên tiếng Anh tại các trường đại học và giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài có thể sử dụng các phát hiện ở Chương 2, 3, 4 và dữ liệu thực nghiệm ở Chương 5 để thiết kế bài giảng về hành vi ngôn ngữ, rèn luyện năng lực giao tiếp dụng học (pragmatic competence) cho sinh viên.
  • Biên dịch viên và phiên dịch viên: Tham khảo các mô hình đối chiếu cấu trúc và ngữ nghĩa hàm ẩn nhằm chuyển ngữ chính xác sắc thái biểu cảm và mức độ lịch sự của các phát ngôn từ chối giữa hai ngôn ngữ Anh – Việt.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân chia phương thức biểu hiện hành vi từ chối lời cầu khiến thành những loại nào?

Luận án phân chia HVTC theo đích ngôn trung thành 3 phương thức chính:

  • Phương thức từ chối trực tiếp (TCTT): Thể hiện trực tiếp qua cấu trúc cú pháp điển hình (động từ ngôn hành hoặc từ phủ định).
  • Phương thức từ chối gián tiếp theo quy ước (TCGT QƯ): Thể hiện qua các cấu trúc câu không điển hình nhưng đã được quy ước hóa (cấu trúc cầu khiến, nghi vấn, trần thuật) kết hợp với hàm ý.
  • Phương thức từ chối gián tiếp phi quy ước (TCGT PQƯ): Thể hiện hoàn toàn thông qua hàm ý hội thoại và quy chiếu ngữ cảnh (gồm 12 phương tiện cụ thể như đe dọa, chỉ trích, nêu lý do, dùng câu điều kiện, giả định phản thực, lảng tránh, thành ngữ...).

2. Sự khác biệt cốt lõi giữa luận án này và công trình của Nguyễn Phương Chi (2004) là gì?

Công trình của Nguyễn Phương Chi (2004) nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ nói chung nhằm đạt đích từ chối trong tiếng Việt (đối chiếu tiếng Anh) dưới góc độ chiến lược ngôn ngữ và đặc điểm ngôn ngữ – văn hóa ứng xử. Ngược lại, luận án của Trần Chi Mai (2005) tập trung chuyên biệt vào phương thức biểu hiện HVTC đối với riêng lời cầu khiến (HVCK) trong tiếng Anh (liên hệ tiếng Việt), đồng thời thực hiện khảo sát thực nghiệm đối sánh định lượng giữa người bản ngữ Anh (NS) và người Việt nói tiếng Anh (NNS) trên phiếu điều tra và băng ghi âm đối thoại.

3. Tiêu chí xác định hành vi cầu khiến và hành vi từ chối trong luận án được xây dựng như thế nào?

  • Hành vi cầu khiến (HVCK): Được xác định dựa trên 4 tiêu chí (theo Chu Thị Thủy An): có ngữ cảnh tình huống tác động đến nhu cầu/quyền lợi; người nói trực tiếp truyền đạt ý chí tới người nghe; nội dung yêu cầu phải có khả năng hiện thực hóa; có hình thức đánh dấu tính cầu khiến. Luận án bao quát toàn bộ nhóm hành vi điều khiển (directives), loại trừ các hành vi thách thức, cổ vũ, cảnh báo vì không đặt nặng khả năng hiện thực hóa.
  • Hành vi từ chối (HVTC): Được nhận diện qua 3 tiêu chí: xuất hiện trong ngữ cảnh thực tế; biểu thị sự không chấp nhận thay đổi theo hướng cầu khiến đã đề xuất (giữ nguyên hiện trạng); có hình thức đánh dấu ý định từ chối ở lượt lời thứ hai của đoạn thoại.

4. Cấu trúc của hành vi từ chối trực tiếp gồm những thành phần nào?

Hành vi TCTT được cấu tạo bởi:

  • Thành phần cốt lõi (TPCL): Là yếu tố bắt buộc, gồm động từ ngôn hành (refuse, decline, từ chối...) hoặc từ phủ định (no, never, không, thôi...).
  • Thành phần mở rộng (TPMR): Là yếu tố đi kèm nhằm giảm tính áp đặt và duy trì phép lịch sự, bao gồm: nêu lý do/giải thích, bày tỏ sự tiếc nuối/xin lỗi, bày tỏ sự đồng tình, cảm ơn, đề cao người đối thoại, hoặc kết hợp đồng thời nhiều TPMR.

5. Dữ liệu khảo nghiệm thực tế trong Chương 5 được thu thập từ những đối tượng nào và bằng cách thức gì?

Dữ liệu khảo nghiệm được thu thập từ 4 nhóm nghiệm thể: sinh viên khoa tiếng Anh (Viện Đại học Mở Hà Nội), sinh viên khoa Kinh tế Đối ngoại (Đại học Ngoại thương Hà Nội), cư dân bản ngữ Anh sinh sống tại Luân Đôn (NS), và sinh viên Việt Nam học tập tại Luân Đôn (NNS). Phương thức thu thập gồm: phát phiếu khảo sát yêu cầu phản hồi từ chối cho 05 tình huống cầu khiến định sẵn, và thiết lập tình huống để thu âm các cuộc đối thoại trực tiếp, sau đó bóc băng thành văn bản để phân tích thống kê.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Trần Chi Mai là một công trình nghiên cứu hệ thống về phương thức biểu hiện hành vi từ chối lời cầu khiến trong tiếng Anh trong sự liên hệ đối chiếu với tiếng Việt. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa khung lý thuyết ngữ dụng học hiện đại và phương pháp khảo sát thực nghiệm định lượng giữa người bản ngữ và người học tiếng Anh, luận án đã làm rõ các cơ chế biểu đạt trực tiếp, gián tiếp quy ước và gián tiếp phi quy ước của hành vi từ chối. Kết quả nghiên cứu cung cấp những luận cứ khoa học xác đáng giải thích sự tương đồng và khác biệt ngôn ngữ – văn hóa Anh – Việt, đồng thời mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác giảng dạy ngoại ngữ và giao tiếp liên văn hóa.