CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu về xe chữa cháy rừng đa năng 1. Cấu tạo xe chữa cháy rừng đa năng Xe chữa cháy rừng đa năng do Việt Nam chế tạo là một loại thiết bị tích hợp nhiều công năng chữa cháy rừng gồm: Cắt cây, làm sạch cỏ rác, mở đường tạo hành lang cách ly đám cháy; phun nước chữa cháy có vùng phun rộng; tạo sức gió có áp suất cao phun vào đám cháy; sử dụng đất cát tại chỗ dập tắt đám cháy. Xe được thiết kế trên cơ sở xe URAL4320 của Liên Xô cũ với động cơ Điêzen có công suất 180 mã lực, là loại xe có ba cầu chủ động được sử dụng chủ yếu trong quân đội nhằm tăng tính cơ động trên mặt đường quân sự.
Hình dáng xe cơ sở và xe chữa cháy rừng đa năng nêu trên hình 1. a) Xe cơ sở URAL 4320 b) Xe chữa cháy rừng đã được chế tạo Hình 1.1: Xe chữa cháy rừng đa năng Các cụm thiết bị chữa cháy được thiết kế, chế tạo và lắp trên xe sát xi cơ sở. Các cụm thiết bị chính được trình bày trên hình 1. [17, 18] 6 1) Hệ thống cắt cây; 2) Thanh gạt cây; 3) Thân xe ô tô; 4) Súng phun nước: 5) Ghế ngồi; 6) Cabin mở rộng; 7) Thùng chứa nước; 8) Vỏ che hệ thống sau; 9) Hệ thống đường ống; 10) Bảng điều khiển; 11) Lô cuốn vòi phun nhỏ; 12) Sàn xe; 13) Hệ thống xới đất; 14) Hệ thống cắt cỏ; 15) hộp giảm tốc trích công suất; 16) Hệ thống quạt thổi đất; 17) Thùng dầu; 18) Bơm thủy lực; 19) Bơm nước cao áp Hình 1.2: Tổng thể xe chữa cháy rừng đa năng 1.
Nguyên lý làm việc của xe chữa cháy rừng đa năng Hệ thống cắt cây được lắp ở phía trước xe gồm 04 đĩa cưa với dao cắt có đường kính 500 mm, tốc độ dao cắt 80 m/s, tốc độ đẩy dao cắt tịnh tiến tối đa 0,2 m/s. Bánh đai trục bên; 2. Cụm trục cắt bên; 3. Bánh đai trục giữa; 4.
Cụm trục cắt giữa; 5. Giá đỡ và di chuyển; 6. Pittong xylanh nâng hạ hệ thống; 7. Bánh răng côn m3-Z35-Re75; 9.
Lưỡi cắt đĩa – D600 Hình 1.3: Bản vẽ thiết kế hệ thống cắt cây phía trước 7 Hệ thống được dẫn động nhờ động cơ thủy lực có công suất 8kW, số vòng quay 3200 vg/ph; hệ thống được nâng lên hoặc hạ xuống và tiến ra phía trước để thuận lợi trong việc cắt cây và di chuyển trên đường, được điều khiển bởi người lái xe từ buồng lái, chuyển động tịnh tiến ra phía trước nhờ xi lanh thủy lực và hệ thống ổ trượt, khi cắt cây xi lanh đẩy đĩa cưa ăn vào gỗ. Hệ thống làm sạch cỏ rác được lắp phía sau xe, tạo băng trắng cản lửa với chiều rộng 2 m để đám cháy không phát triển qua được. Hệ thống này hoạt động theo nguyên tắc cắt dạng búa gồm 40 dao; đường kính đĩa lắp dao cắt 400 mm, chiều dài dao 125 mm; vận tốc dao cắt 25 m/s. Chuyển động quay của hệ thống cắt cỏ được thực hiện nhờ động cơ thủy lực có công suất 30 kW; số vòng quay từ 800 1500 vg/ph.4: Bản vẽ thiết kế hệ thống cắt cỏ làm sạch cỏ rác Ngoài hệ thống cắt cây và làm sạch cỏ rác, trên xe còn lắp hệ thống cuốc đất; hệ thống này được nâng lên hoặc hạ xuống nhờ xylanh thủy lực và được lắp dưới gầm xe.
Hệ thống hút đất được dẫn động từ động cơ có công suất 8kW với số vòng quay 3200 vg/ph. Hệ thống gồm 4 dao cắt dạng hình búa với kích thước chiều dài dao 125 mm, chiều rộng lưỡi dao 50 mm, vận tốc dao cắt 80 m/s, chiều sâu hố cắt 400 mm, dao cắt đất của hệ thống hoạt động theo nguyên lý cắt đất ở dạng búa. Đất sau khi được đào xới lên sẽ được một bơm chân không hút lên, đất được được đưa vào buồng phân phối. Đất từ buồng phân phối đưa xuống ống phun và được phun vào đám cháy nhờ áp lực không khí lớn được tạo ra từ bơm thổi khí áp lực cao.
8 Chính vì trang bị hệ thống cuốc đất nên xe chữa cháy rừng đa năng có thể lấy đất, cát ngay tại chỗ để dập tắt đám cháy khi trên xe hết nước.5: Bản vẽ thiết kế hệ thống cuốc đất Thiết bị bơm nước, thùng chứa nước cứu hỏa và vòi phun nước được lắp trên thùng chứa nước, bơm nước hút nước dưới ao hồ hoặc sông suối vào trong thùng chứa, khi chữa cháy bơm nước hút nước trong thùng chứa đẩy ra vòi phun và phun vào đám cháy. Để tăng lưu lượng thùng chứa nước thiết bị có thể sử dụng các bể trung gian nối từ ao hồ tới xe, khoảng cách tới 500 mét. Khi đám cháy xảy ra, người lái xe di chuyển xe đến nơi có vị trí cháy, sử dụng hệ thống cắt cây phía trước để cắt bỏ các vật cản trên đường đi, hệ thống làm sạch cỏ rác ở phía sau để làm băng trắng cách ly, cô lập và khoanh vùng đám cháy, tiến hành phun nước dập tắt đám cháy. Trường hợp đám cháy vẫn diễn ra sau khi đã hết nước trên buồng chứa, sử dụng hệ thống cắt đất - hút đất và phun đất vào đám cháy để dập tắt đám cháy.
Các hệ thống cắt cây, làm sạch cỏ rác hoặc hệ thống cắt đất, hút đất và phun đất, khi sử dụng người điều khiển hạ xuống, khi không sử dụng thì điều khiển xi lanh thủy lực nâng các hệ thống đó lên. Thông số kỹ thuật của xe chữa cháy rừng đa năng Với nhiều công dụng nêu trên, xe chữa cháy rừng đa năng là xe chuyên dụng được tích hợp nhiều thiết bị chữa cháy rừng trên xe, khi hoạt động có nhiều hệ thống công tác cùng làm việc. Thông số kỹ thuật của xe chữa cháy rừng được trình bày ở bảng 1.1: Thông số kỹ thuật xe chữa cháy rừng đa năng Giá trị xác TT Đặc tính kỹ thuật của xe CCR đa năng Đơn vị tính định 1 Thông số chung của xe 1.1 Công suất động cơ mã lực 180 1.2 Tốc độ dập lửa m/phút 12 1.3 Chiều cao ngọn lửa được dập tắt m 9 1.4 Tốc độ di chuyển trên đường lâm nghiệp km/h 25 1.5 Độ dốc dọc thiết bị di động được Độ < 150 1.6 Độ dốc ngang thiết bị di động được Độ ≤ 50 2 Hệ thống bình chứa nước, bơm nước 2.1 Dung tích bình chứa nước m3 5,1 2.2 Lưu lượng bơm nước m3/h 10 3 Hệ thống chữa cháy bằng sức gió 3.1 Lưu lượng quạt gió m3/phút 104 3.2 Vận tốc không khí miệng ống thổi m/s 65 3.3 Chiều dài ống thổi không khí m 35 4 Hệ thống phun đất cát 4.1 Khối lượng đất cát phun vào đám cháy kg/phút 45 4.2 Chiều dài ống phun đất cát m 35 5 Hệ thống làm băng cản lửa 5.1 Tốc độ cắt cây, làm sạch cỏ rác làm băng km/h 10 cản lửa 5.2 Đường kính cây lớn nhất cắt được cm 25 1. Đặc điểm làm việc của xe chữa cháy rừng đa năng Xe chữa cháy rừng đa năng đã được đưa vào sử dụng tại một số địa phương như Công ty lâm nghiệp Đắc Tô, Kon Tum, kết quả chữa cháy rừng cho thấy năng suất và hiệu quả chữa cháy cao, phù hợp với điều kiện địa hình Tây Nguyên nói riêng và Việt Nam.
10 Xe chữa cháy rừng hoạt động chữa cháy trong khu rừng không có đường, di chuyển trên đường không bằng phẳng, đồng thời dưới tác động của các mấp mô mặt đất rừng, các vật cản trên đường đi, và tác động của các hệ thống công tác chữa cháy trên xe làm khung sát xi của xe bị biến dạng lớn, ảnh hưởng đến độ bền của khung xe dẫn đến ảnh hưởng đến ổn định làm việc của xe và thiết bị trên xe. Trong quá trình di động trong rừng xe phụ thuộc nhiều yếu tố như độ dốc của khu rừng, độ mấp mô mặt đất rừng, thực bì rừng, cây rừng … nhiều vật cản trên đường đi. Đồng thời cháy rừng thường xảy ra ở nơi có độ dốc cao, địa hình phức tạp hệ thống đường chất lượng thấp, nên muốn chữa cháy được thì xe chữa cháy phải tiếp cận được đám cháy. Ngoài ra, trên xe chữa cháy rừng đa năng còn lắp thêm các thiết bị cắt cây phía trước, làm sạch cỏ rác phía sau, cuốc đất phun vào đám cháy,… Chính vì điều kiện làm việc phức tạp trên làm ảnh hưởng đến độ bền khung sát xi xe chữa cháy rừng đa năng.
Các dạng tải trọng động tác dụng lên khung xe trong quá trình hoạt động của xe 1. Tỷ lệ giữa tải trọng tĩnh và tải trọng động Tải trọng tác động lên xe thường là quá trình động lặp lại với biên độ bé hơn giá trị trung bình của chúng. Các lực này có thể gây ra hiện tượng phá hỏng do mỏi gần các điểm làm việc. Các kết cấu đủ bền đối với tải trọng lớn nhất sẽ đảm bảo được điều kiện bền mỏi.
Do đó việc xác định tải trọng tác dụng lên xe được chuyển về việc xác định các hệ số tải trọng động của các lực tĩnh được xác định thông qua trọng lượng của xe. Với các hệ số này ta có thể thay thế việc phân tích ứng suất mỏi của kết cấu bằng phân tích tĩnh kết cấu. Khi chuyển động, thân xe sẽ chịu thêm tải trọng do nội lực tỷ lệ với tự trọng của xe, tải trọng và gia tốc. Tải động này có thể biểu diễn bằng công thức: Pt .1) g Trong đó: Pt - tải trọng tĩnh, N; 11 m – hệ số không thứ nguyên của các lực quán tính.
Các tải trọng thẳng đứng đối xứng Tải trọng thẳng đứng đối xứng gây ra ứng suất uốn xung quanh trục yy (phương ngang của xe). Tổng lực theo phương thẳng đứng tác dụng lên thân xe có giá trị: Psz = msz.2) Trong đó: mzs - hệ số không thứ nguyên của lực quán tính; Gc, Gnr - trọng lượng tổng cộng của xe và của khối lượng không được treo, N. Giá trị của mzs còn phụ thuộc vào tốc độ chuyển động của xe và tải trọng đặt lên xe. Đối với các xe tải dùng nhíp lá, các mấp mô mặt đường lặp đều đặn sẽ làm tăng hệ số mzs ở tốc độ lớn của xe.
Tuy nhiên các mấp mô cục bộ sẽ làm tăng mzs ở tốc độ chuyển động trung bình của xe. Các xe có tính năng cơ động cao sẽ có hệ số mzs cao hơn [50]. Các tải trọng thẳng đứng không đối xứng Tải trọng này gây ra xoắn quanh xx và uốn xung quanh yy.