MỞ ĐẦU Việt Nam là một nước nông nghiệp lâu đời, năng suất và sản lượng cây trồng luôn là van dé đáng quan tâm của các nhà nông. Nhờ sử dụng phân bón và hóa chất trong sản xuất nông nghiệp mà năng suất cây trồng tăng lên rõ rệt. Bên cạnh mặt tích cực đó thì mặt tiêu cực là người nông dân lam dụng hoá chất trong sản xuất nông nghiệp, nhất là các loại rau ăn lá như cải ngọt, mông toi, cải be xanh, cải bap, cải thảo, rau muông, dưa leo, cà chua. Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới, mỗi năm con người đã sử dụng hàng chục triệu tấn thuốc bảo vệ thực vật các loại bao gom thuốc trừ sâu, thuốc diệt nắm, diệt co., ngoài một phân thuốc có tác dụng diệt trừ các loài địch hại mùa màng, phan lớn khối lượng thuốc còn lại được đưa vào môi trường.
Sự hiện diện và tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật trong môi trường nước, đất, cây cỏ. đã làm ngộ độc, gây chết cho nhiều loài động vật. Thuốc bảo vệ thực vật ảnh hưởng trực tiếp đến con người: gây ngộ độc mãn tính, ngộ độc cấp tính dẫn đến tử vong hoặc làm biến doi gen gây nên các bệnh về di truyền ảnh hưởng đến nhiều thế hệ sau. Do tác hại to lớn nay trong nhiều năm trở lại đây vấn đề ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật luôn được quan tâm nghiên cứu.
Ở nước ta đã có một số công trình khảo sát về tình hình sử dụng thuốc trừ sâu và ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến sức khoẻ người nông dân. Tuy nhiên phân lớn các nghiên cứu xác định dư lượng của thuốc trừ sâu này chỉ được thực hiện trên từng nhóm thuốc trừ sâu riêng lẽ, và các nghiên cứu chỉ dừng lại ở đó mà chưa được áp dụng vào thực tế vào các trung tâm kiểm định chất lượng sản phẩm. Từ những lý do trên, với sự hỗ trợ trang thiết bị của Trung Tâm Ky Thuật Tiêu Chuan Do Luong Chất Lượng 3 và dựa trên những công trình nghiên cứu liên quan được công bố trong và ngoài nước, chúng tôi tiễn hành thực hiện đề tài “Xác định đồng thời dư lượng trên 40 hop chất thuốc trừ sâu phố biến ở Việt Nam trong nhiều nhóm thực phẩm bằng phương pháp QuEChERS và phân tích bằng LC- MS/MS”.1 GIOI THIEU VE THUOC BAO VE THUC VAT: Dinh nghia: Thuốc bảo vệ thực vat (thuốc trừ sâu) hay còn gọi là nông dược, là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hóa chat tong hợp được dùng dé bảo vệ cây trồng và nông sản nhằm chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật. Những sinh vật gây hại chính bao gồm: sâu hại, bệnh hại, cỏ dai, chuột và các tác nhân khác.
Hóa chất bảo vệ thực vật gom nhiều nhóm khác nhau, được gọi theo tên nhóm sinh vật gây hại, ví dụ như thuốc trừ sâu dùng dé trừ sâu hại, thuốc trừ bệnh dùng dé trừ bệnh cho cây [1,2].2 DU LƯỢNG THUỐC BAO VE THỰC VAT: Du luong thuốc bao vệ thực vật là phân còn lại của hoạt chất, các sản phẩm chuyển hoá và các thành phan khác có trong thuốc, tổn tại trên cây trồng, nông san, đất, nước sau một thời gian dưới tác động của các hệ sống (living systems) và điều kiện ngoại cảnh (ánh sáng, nhiệt độ, âm độ. Dư lượng của thuốc được tính bang mg (miligam) thuốc có trong | kg nông san, dat hay nước (mg/L). Như vậy, du lượng thuốc bảo vệ thực vật bao gom bat ky dan xuất nào của thuốc cũng như các sản phẩm chuyển hoá của chúng có thé gây độc cho môi sinh, môi trường. Dư lượng có thé có nguôn gốc từ những chat đã xử lý vào đất hay trên bề mặt vật phun; phan khác lại bắt nguồn từ sự ô nhiễm (biết hay không biết) có trong không khí, đất và nước [1].
Theo quy định châu Âu, giới hạn cho phép tối đa thuốc bảo vệ thực vật trong nông sản từ 0.0 mg/kg tùy vào từng loại thuốc trừ sâu, từng loại thực phẩm, nhưng đối với một số thuốc trừ sâu độc hại nhất thì dư lượng thuốc trừ sâu cho phép là 0.3 TÁC HAI CUA THUOC BAO VE THUC VAT: Hau hệt hóa chat bảo vệ thực vat đêu độc với con người va động vat máu nóng ở các mức độ khác nhau. Dựa theo đặc tính hóa chât bảo vệ thực vật mà ta chia làm hai loại: chất độc cấp tính và chất độc mãn tính. Chất độc cấp tính: mức độ gây độc phụ thuộc vào lượng thuốc xâm nhập vào cơ thé. Ở dưới liều gây chết, chúng không đủ khả năng gây tử vong, dan dan bị phân giải và bài tiết ra ngoài.
Loại này bao gồm các hợp chất họ pyrethroid, những hợp chat họ lân hữu co, ho carbamate và những loại thuôc có nguôn gôc sinh vat. Chất độc mãn tính: là những chất có khả năng tích lũy lâu dài trong cơ thể vì chúng rất bền, khó bị phân giải và bài tiết ra ngoài. Thuốc loại này gồm nhiều hợp chất chứa clo hữu cơ, chứa thạch tín (asen), chứa chì, chứa thuỷ ngân. đây là những loại rat nguy hiêm cho sức khoẻ con người.
Hóa chất bảo vệ thực vật có thể thâm nhập vào cơ thể con người và động vật qua nhiều con đường khác nhau, thông thường qua ba đường chính: hô hấp, tiêu hoá và tiếp XÚC trực tiếp. Khi tiếp xúc với hóa chất bảo vệ thực vật, con người có thể bị nhiễm độc cấp tính hoặc mãn tính, tùy thuộc vào phạm vi ảnh hưởng của thuốc [4].4 NHÓM LAN HỮU CƠ 1.1 Khái niệm và ứng dụng Thuốc trừ sâu lân hữu cơ (còn gọi thuốc trừ sâu nhóm phospho hữu co) là các hợp chất có nguồn sốc tong hop, được cầu tao từ một phân tử phospho hóa trị V với 2 sốc hydrocacbon (R1, R2), một nhóm chức X chứa lưu huỳnh (S) hoặc nito (N) và một nguyén tử oxi (O). Khi thay thế các sốc RI, R2 hoặc nhóm chức ta được một chất mới có độc tính khác với chất ban đầu [1]. Ví dụ như fenitrothion, malathion, parathion, diazinon.Lân hữu cơ có tác dụng tốt trong diệt cỏ, diệt côn trùng, góp phan nâng cao năng suất cây trông nên được sử dung rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta.
Hiện nay đã tổng hợp được hơn 400 loại lân hữu cơ khác nhau.2 Công thức chung và một số dạng thường gap O(S) RI—P—R2 X R1, R2: Gốc hydrocacbon X: Chứa lưu huỳnh hoặc nito 1.3 Co chế tác động và độc tính Lân hữu cơ tác động vào hệ thần kinh của cá thể trúng độc băng cách ức chế hoạt tính của men acety cholinesteraza (AchE), dẫn đến làm tê liệt quá trình dẫn truyền kích thích của các xung than kinh, gây nên cảm giác hưng phan cùng với các hoạt động loạn nhịp, choáng váng, các chi và đầu co giật liên tục, yếu dan và chết [1]. Dưới tác dụng của điều kiện tự nhiên như ánh sang, nhiệt do, độ âm và vi sinh vật. quá trình chuyển hoá các lân hữu cơ diễn ra rất phức tạp, xuất hiện nhiều hợp chất trung gian có độc tính cao gấp nhiều lần so với dạng chất ban đầu. Các hợp chất lân hữu cơ hầu như không tích lũy lâu trong lipit, mô mỡ, lipoprotein nhưng lại dễ hoa tan và tích lũy rất lâu trong dẫn xuất ester của các acid hữu cơ vòng thom.
Chúng có thể gây ngộ độc cấp tính cho sinh vật khi tiếp xúc trực tiếp, nuốt nhằm hoặc qua đường hô hap. Đồng thời lân hữu cơ cũng có thé gây độc mãn tính mà không có triệu chứng ban dau cụ thé nào.1 Khai niệm và ứng dụng Thuốc trừ sâu nhóm carbamate là các hợp chất có nguồn gốc tong hop từ axit carbamic, cu thé là dẫn xuất ester của axit carbamic (còn gọi là urethane). Một sỐ chất tiêu biểu: carbaryl, carbofuran, thiobencarb, diethofencarb,. Nhóm này có hiệu quả thương mại cao nên được dùng nhiều trong nông nghiệp như thuốc trừ sâu, diệt cỏ, diệt nắm.
Hiện nay có hơn 50 loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm này đang được sử dụng trên thị trường. Thuốc trừ sâu ho carbamate được sử dụng thay thế cho những loại thuốc trừ sâu chứa Clo như DDT (dichloro diphenyl trichlorothane) hay chứa phospho. Nguyên nhân là bởi carbamate không bên, dễ bị phân hủy dưới tác động của môi trường. Tuy nhiên, thuốc trừ sâu học carbamate được nghi ngờ là có khả năng gây ung thư và đột biến gen.
Hợp chất carbamate đa số là những chất độc đối với con người và được xếp vào nhóm độc I hoặc II theo tiêu chuẩn Việt Nam. Việc tăng sử dụng thuốc trừ sâu họ carbamate đặt ra van đề về nguy cơ đối với nghé trồng rau mà môi trường sống của COn người.2 Cong thức chung O Rw x+ 02 R' H Với R, R’ là nhóm alkyl hay nhóm aryl. R: là nhóm methyl thường sử dụng làm thuốc diệt côn trùng. R: là nhóm aryl thường sử dụng làm thuốc diệt cỏ.
R: nhóm benzimidazole thường sử dụng làm thuốc diệt nam móc.3 Co chế tác động và độc tính Trong môi trường tự nhiên, thuộc trừ sâu nhóm carbamate là những chat ít bên nhưng có độc tinh rat cao đôi với con người và động vat. Về cơ chế tác động của nhóm nay tương tự như các thuốc trừ sâu lân hữu cơ. Các hop chat carbamate kìm hãm men acetyl cholinesteraza qua quá trình carbaryl hóa các vi trí hoạt động cua men. Quá trình này là quá trình thuận nghịch, sự liên kết giữa các hợp chat carbamate với enzyme acety cholinesteraza thường không bền, nên có trường hợp sâu hại phục hồi được sau khi nhiễm thuốc.
Nhóm thuốc carbamate an toàn với cây, ít độc hơn nhóm thuốc lân hữu cơ và không tích tụ quá lâu trên nông sản, môi trường sống. Độ độc của thuốc rất khác nhau theo từng loài, tùy thuộc vào loại thuốc.1 Khai niệm và ứng dụng Thuốc trừ sâu nhóm Triazole là nhóm thuốc mới chứa nhiều hoạt chất trừ nắm. Nhóm thuốc này dùng phun lên cây hoặc để xử lý hạt, cây giống. Một số sản phẩm đại diện như propiconazole, difenoconazole,.2 Cơ chế tác động và độc tính Thuộc trừ sâu thong qua ré và lá ngầm nhanh vào thân cây, di chuyên vào trong thân đền các mô sinh trưởng, thông qua việc gan kêt với gôc sterol của lớp màng tê bao gây ức chế quá trình sinh tổng hợp trong tế bào của nam, dẫn đến tình trạng các thành phan nội bào bi phá hủy gây nên các “lỗ thủng”, sau cùng làm chết tế bào nam.
Ngoài ra, nhóm thuôc trừ sâu này còn ngăn cản quá trình tông hợp chât melanin làm cho sợi nam không xâm nhập hoặc không phát triển được trong các tế bào của cây.