phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương, 7 tiết. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. NỘI DUNG CHƢƠNG 1. TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CHO SỰ RA ĐỜI PHƢƠNG PHÁP ĐI TỪ TRỪU TƢỢNG ĐẾN CỤ THỂ.
Quan niệm của các nhà kinh tế học tƣ sản cổ điển về “điểm khởi đầu nghiên cứu” Vấn đề xác định khởi điểmđể nghiên cứu các hiện tượng xã hội xuất hiện vào những năm 50 của thế kỷ XIX, được bắt đầu bởi các nhà kinh tế học cổ điển. Để hiểu được đối tượng trong tính chỉnh thể hỗn mang của nó, các nhà nghiên cứu luôn trăn trở một câu hỏi là: quá trình nhận thức về đối tượng diễn ra như thế nào? Có hai quan điểm khác nhau về vấn đề này. Quan điểm thứ nhất cho rằng, tiến trình ấy bao gồm cả hai con đường. Họ đặt tên cho con đường thứ nhất là con đường “đi từ cụ thể cảm tính đến trừu tượng” để phân biệt với con đường thứ hai “đi từ trừu tượng đến cụ thể”.
Tức là muốn nhấn mạnh hai khái niệm “cụ thể cảm tính” và “cụ thể trong lý luận tư duy”. Đó thực chất là điểm khởi đầu và điểm cuối của quá trình tư duy. Cách hiểu đó về cơ bản thống nhất với cách hiểu của C. Tuy nhiên, sẽ có một điểm bất lợi nếu cách hiểu đó rơi vào trường hợp khi người ta không phân biệt được nhận thức luận và bản thể luận, không phân biệt được “cái cụ thể hiện thực” và “cái cụ thể cảm tính”.
Quan điểm thứ hai cho rằng, mọi quá trình nhận thức luôn bắt đầu từ cái trừu tượng vì ngay khi “cái chỉnh thể hỗn mang” được đem lại trong trực quan và biểu tượng thì đó cũng đã là một sự nhận thức, dù rằng chỉ ở trình độ ý niệm. Mỗi một hiểu biết mới về đối tượng sẽ đem lại, bổ sung thêm cho nhận thức còn tương đối “rỗng” ban đầu và làm cho nó ngày càng đầy lên, cụ thể hơn. Như vậy, so với cái cụ thể ở kết quả, sự hiểu biết ban đầu chỉ là một cái “trừu tượng”. Bất cứ tiến trình tư duy nào cũng sẽ diễn ra như vậy.
Theo cách hiểu này, điểm khởi đầu của quá trình nhận thức, dù ở cấp độ loài hay cá thể luôn là “chỉnh thể đối tượng trong trực quan và biểu tượng”. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, có thể nói toàn bộ “con đường thứ nhất” – hiểu cho đúng thì đó là con đường kinh nghiệm phân tích mà nhận thức của khoa kinh tế chính trị thế kỷ XVII đã đi thực chất chính là con đường phân tích, trừu tượng hóa. Đó cũng là con đường duy nhất đúng để hình thành những khái niệm chung nhất, trừu tượng nhất. Cách mà các nhà kinh tế chính trị học tư sản cổ điển đã làm để có những khái niệm như: phân công lao động, tiền tệ, giá trị,… chính là như vậy.
Họ đã bắt đầu từ một tổng thể sống động, được đem lại trong trực quan và biểu tượng. Sau đó, họ so sánh, phân tích để rút ra từ các dữ kiện trực quan, trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, những tính quy định chung giống nhau. Tuy nhiên, khi nhìn từ giai đoạn phát triển cao của lý luận kinh tế chính trị, chúng ta có thể nhận ra những giá trị nhất định của “con đường thứ nhất”. Có thể nói, do mọi tiến trình nhận thức luôn bắt đầu một cách tất yếu từ tổng thể sinh động trong trực quan và biểu tượng, nên chủ thể nhận thức dù ở cấp độ loài hay cá thể đều phải “lựa chọn điểm khởi đầu” khi nghiên cứu về đối tượng.
Thành quả của nhận thức ở “con đường thứ nhất” chính là những phạm trù kinh tế trừu tượng mà các nhà kinh tế học tư sản đã rút ra trên cơ sở trừu tượng hóa các dữ kiện hiện thực. Những phạm trù kinh tế trừu tượng ấy như “lưu thông”, “thương mại”, “lao động”… tất nhiên chỉ ở một tầng bậc thấp, đơn giản. Chính ở tầng bậc thấp đó, những phạm trù ấy đã tạo cơ sở cho sự nhận thức cụ thể hơn, sâu sắc hơn, đặc thù hơn sau này ở các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác. Ví dụ, các nhà kinh tế học đã bắt đầu từ phạm trù “lưu thông”.
Đây là vấn đề đã được nêu lên ngay từ phái trọng thương, với quan niệm cho rằng “lợi nhuận sinh ra trong lưu thông”. Nhưng đó chỉ là cái nhìn chỉ gắn với lớp vỏ bề ngoài của hiện tượng. Các nhà trọng thương thấy rằng lợi nhuận thương nghiệp là kết quả của sự trao đổi không ngang giá, là lừa gạt, chiến tranh, họ chưa thừa nhận quy luật kinh tế khách quan. Điều đó tất yếu phải dẫn đến tư tưởng phủ định nó.
Đơlâynốt (1641-1695) trái với quan điểm trên của chủ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghĩa trọng thương, đã cho rằng “thương mại” cần được nhìn theo tính quy luật khách quan hơn. Rằng đó phải là “sự trao đổi” giá trị sử dụng này lấy giá trị sử dụng khác. Quan điểm này đến C. Mác đã giúp ông có được sự suy luận khoa học: người ta trao đổi những hàng hóa với những hàng hóa khác, hay những hàng hóa với tiền tệ có cùng giá trị với hàng hóa đó, tức là trao đổi những vật ngang giá, rõ ràng là không ai rút ra được từ trong lưu thông nhiều giá trị hơn số giá trị đã bỏ vào trong đó.
Vậy giá trị thặng dư tuyệt nhiên không thể hình thành ra được trong lưu thông. Từ quan điểm này nhìn ngược lại, không thể đánh giá nguyên nhân sự hạn chế trong lý luận của phái trọng thương là hoàn toàn do tính chủ quan. Nguyên nhân của hạn chế đó cũng có một phần cơ sở từ hiện thực, bởi theo Mác thực sự tư bản thương nghiệp chính là hình thái tồn tại tự do đầu tiên của tư bản nói chung. Nếu phái trọng thương coi “lưu thông” là điểm khởi đầu nghiên cứu thì phái trọng nông lại xác định “lao động” là điểm khởi đầu nghiên cứu về kinh tế tư bản.
Các nhà trọng nông là những người đầu tiên chuyển việc nghiên cứu nguồn gốc của giá trị thặng dư từ lĩnh vực lưu thông vào lĩnh vực sản xuất trực tiếp với quan điểm cho rằng “lao động là nguồn gốc của của cải”. Tuy nhiên “lao động” đó mới chỉ dừng lại ở việc đồng nhất với một dạng cụ thể của nó là “lao động nông nghiệp” nhưng về cơ bản quan điểm đó đã “đặt cơ sở cho việc phân tích nền sản xuất tư bản chủ nghĩa” (C. Thành tựu to lớn của A.Mác đánh giá ông đã gạt bỏ tất cả mọi tính xác định cụ thể của hoạt động sáng tạo ra của cải. Ở ông, chỉ có khái niệm “lao động” mà thôi, nó không phải lao động công nghiệp, cũng không phải lao động thương nghiệp hay lao động nông nghiệp mà là cả cái nọ lẫn cái kia.
Và cùng với tính phổ biến trừu tượng của hoạt động sáng tạo ra của cải, người ta đi đến nhận thức tính phổ biến của cải, đó là “sản phẩm nói chung” đến Mác chính từ điểm xuất phát này mà Mác đã nghiên cứu để khái quát ra phạm trù “lao động trừu tượng” là nguồn gốc của giá trị và giá trị thặng dư. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi quá trình tích lũy nguyên thủy kết thúc, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bước vào giai đoạn phát triển của nó.Ricacđô đã cho thấy sự phát triển đồng nhịp của tư duy với hiện thực. Những phạm trù kinh tế như “giá trị”, “lao động”, “tiền tệ”, “hàng hóa” được đưa vào hệ thống và mang tầm khái quát cao hơn, phản ánh sống động hơn bản chất vốn có của đối tượng, những phạm trù ấy trở nên trừu tượng nhưng đồng thời cũng cụ thể hơn. Song “cái cụ thể” ấy mới chỉ là kết quả đánh dấu sự kết thúc giai đoạn đầu của quá trình nhận thức.
Trong quá trình vận động lên phía trước, nó trở lại thành “cái trừu tượng xuất phát” cho giai đoạn nhận thức tiếp theo. Vì thế, các nhà kinh tế học thế kỷ XVII, khi sử dụng phương pháp này trong các công trình nghiên cứu của mình, họ bao giờ cũng bắt đầu từ chỉnh thể cụ thể, đặc biệt là từ dân cư, và sau đó đi tới “những sự trừu tượng hóa ngày càng nghèo nàn” cho đến cuối cùng đi tới những khái niệm đơn giản nhất như là lao động, phân công lao động, giá trị trao đổi,.Mác đã viết: “Các nhà kinh tế học thế kỷ XVI luôn luôn bắt đầu từ cái chỉnh thể sinh động, từ dân cư, dân tộc, quốc gia, một vài quốc gia,. nhưng họ luôn luôn kết thúc bởi điều là bằng phân tích họ tách riêng ra một số mối quan hệ phổ biến trừu tượng quyết định như phân công lao động, tiền tệ, giá trị,.” [29;62-63] Sau khi tách các mặt hoặc các thuộc tính cá biệt của chỉnh thể đang được nghiên cứu ra và thể hiện kết quả nhận được trong các khái niệm chung đơn giản nhất, họ chỉ cần ghép các khái niệm, những sự trừu tượng hóa đó lại một cách máy móc cũng hiểu biết được bản chất của chỉnh thể. Dĩ nhiên, nếu tuân theo nguyên tắc nhận thức như vậy thì ta không thể hiểu biết đươc chút nào bản chất bởi vì bản chất không phải là chỉnh thể máy móc, không phải là sự kết hợp giản đơn các thuộc tính hay các mặt của đối tượng, mà là sự thống nhất biện chứng, chỉnh thể biện chứng mà tất cả các mặt của nó đều nằm trong mối liên hệ qua lại và phụ thuộc lẫn nhau một cách tự nhiên, tất yếu.
Như vậy, cái cụ thể tồn tại trong hiện thực, mới là khách thể của nhận thức,nhưng để nghiên cứu về nó, sự nghiên cứu lại bắt đầu từ cái không phải 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com từ cái cụ thể, đó là cái trừu tượng, từ những khái niệm phản ánh các mặt, các mối quan hệ chung hoặc phổ biến đơn giản nhất của đối tượng nhận thức. Hơn nữa, cần phải lấy không phải bất cứ mặt nào (đơn giản, phổ biến), mà là mặt quyết định trong chỉnh thể đang được nghiên cứu - mặt quy định tất cả các mặt khác của nó, làm điểm xuất phát.