mở đầu”. Âm đầu thường do các phụ âm đảm nhiệm nên còn được gọi là phụ âm đầu” [32]. b) Am dém Âm đệm là yếu tố “đứng ở vị trí thứ hai, sau âm đầu. Nó tạo nên sự đối lập tròn môi và không tròn môi.
Trong Tiếng Việt, âm đệm do bán âm /u/ đảm nhiệm. Âm đệm /u/ thể hiện bằng chữ “u” và “o” [32]. Trong Tiếng Việt chỉ có “bán âm /„/ và (zêrô) là âm vị âm đệm”. Bán âm /u/ “có đặc điểm giống nguyên âm [u]” [32].
c) Âm chính Đứng ở “vị trí thứ ba trong âm tiết, là hạt nhân, là đỉnh của âm tiết, quy định âm sắc chủ yếu của âm tiết”. Âm chính trong Tiếng Việt “do nguyên âm đảm 12 nhiệm”. Âm vị đảm nhiệm vị trí này là các “nguyên âm đơn và nguyên âm đôi, bao gồm 13 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi” [32]. đ) Âm cuối Có vị trí “cuối cùng của âm tiết, nó có chức năng kết thúc một âm tiết”.
Do vậy, khi có mặt của âm cuối thì “âm tiết không có khả năng kết hợp thêm với âm (âm vi) nao khác ở phần sau của nó” [32] e) Thanh điệu Tiếng Việt gồm có sáu thanh: “thanh ngang, huyền, ngã, hỏi, sắc, nặng; được kí hiệu phiên âm bằng sé 1- 6 theo thứ tự trên” Đoàn Thiện Thuật (2007), Ngữ âm tiếng Việt, Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. Thanh điệu là yếu tố: “thay đổi cao độ của âm tiết”. Nó ảnh hưởng lên “toàn bộ âm tiết, nhưng khi viết nó được ghi trên hoặc dưới âm chính là nguyên âm đơn”. Gặp nguyên âm phức không kèm theo âm cuối thì nó được ghi trên yếu tố đầu của âm phức (ví dụ: của, thìa, khứa).
Nếu nguyên âm phức có kèm theo phụ âm cuối thì thường ghi thanh điệu trên yếu tố thứ 2 của âm phức đó (ví dụ: dưỡng, biếng, tudng). Nghiên cứu mô hình cấu trúc âm tiết Tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy sự đa dạng và phong phú của ngôn ngữ, được thể hiện qua nhiều loại âm tiết bao gồm âm đầu, âm chính và âm cuối. Cầu trúc âm tiết của Tiếng Việt cũng mang tính linh hoạt và thích ứng, cho phép sự biến đổi tùy thuộc vào vị trí và ngữ cảnh của âm trong từ. Mô hình cấu trúc âm tiết Tiếng Việt là một công cụ hữu ích cho GV và HS trong việc luyện phát âm Tiếng Việt.
Việc sử dụng mô hình này một cách hiệu quả sẽ giúp HS lớp 1 phát âm Tiếng Việt một cách chính xác và rèn luyện kỹ năng nghe, nói Tiếng Việt một cách hiệu quả. Nguyên âm, phụ âm, bán âm a) Nguyên âm Theo Nguyễn Thị Ân và Nguyễn Thị Ly Kha (2009): “Nguyên âm là những âm khi phát âm luồng hơi thoát ra ngoài một cách tự do có chu kì và tần số xác định, có âm hưởng êm ái, dễ nghe” [2]. Theo Võ Xuân Hào (2009), “khi phát ra một nguyên âm dây thanh rung động mạnh. Hệ quả âm học của nó âm phát ra có tiếng thanh cho nên nguyên âm được cấu tạo chủ yếu bằng tiếng thanh” [13].
13 Để phân biệt các nguyên âm trong hệ thống nguyên âm, người ta đưa ra 4 tiêu chí: - Chiều hướng của lưỡi: khi phát ra một nguyên âm lưỡi có thé dịch chuyển theo 3 vị trí, đó là đưa về phía trước, lùi về phía giữa hoặc kéo hẳn về phía sau. Theo đó, ta có: + Nguyên âm dòng trước. Ví dụ: /1, e, £/ + Nguyên âm dòng giữa. Ví dụ: /2/ + Nguyên âm dòng sau.
Ví dụ: /u, o, 2/ - Độ mở của miệng: khi phát ra một nguyên âm, miệng có thể mở theo 4 độ mở tạo ra bốn loại nguyên âm khác nhau: + Nguyên âm rộng. Ví du: /a, a/ + Nguyên âm hơi rộng. Ví dụ: /e, 2/ + Nguyên âm hơi hẹp. Ví dụ: /e, o/ + Nguyên âm hẹp.
Ví dụ: /1, u/ - Hình dáng của môi: môi có thể chúm tròn hoặc không để tạo ra hai loại nguyên âm, đó là: + Nguyên âm tròn môi. Ví dụ: /u, 0, 9,/ + Nguyên âm không tròn môi. Ví dụ: /1, e, ¢, ¥/ - Trường độ của nguyên âm: nguyên âm phát ra có thể kéo dài hay rút ngắn. Theo đó dựa vào trường độ, nguyên âm được chia làm hai loại: + Nguyên âm dài.
Ví dụ: /1, e, ¢, wy, x, u, o/ + Nguyên âm ngắn. Ví dụ: (š/, /ă/, ð/, /ð/ b) Phụ âm Theo Nguyễn Thị Ân và Nguyễn Thị Ly Kha (2009): “Phụ âm là những âm khi phát âm, luồng hơi thoát ra gặp sự cản trở (sự thu hẹp của dây thanh, sự chặn lại bởi đầu lưỡi chạm vào chân răng hay sự khép lại của hai môi .), nó phải phá chỗ cân hoặc lách qua khe hở dễ thoát ra, nó có tần số không ôn định, âm hưởng không dễ nghe như nguyên âm” [2]. Các loại phụ âm: Để phân biệt các phụ âm trong hệ thống phụ âm, người ta dựa vào 3 tiêu chí: Thứ nhất, dựa vào phương thức phát âm. 14 Các phụ âm trong ngôn ngữ phân biệt nhau vì cách thức phát âm để tạo ra chúng có phần khác nhau.
Nếu dựa vào cách thức phát âm, người ta phân biệt: - Phương thức tắc: phương thức tắc là phương thức phát âm mà theo đó luồng hơi trước khi thoát ra ngoài bị chặn đứng hoàn toàn hay bị bế tắc hoàn toàn. Dựa vào vị trí luồng hơi thoát ra ngoài, người ta phân biệt: + Phụ âm tắc mũi (luồng hơi thoát ra đằng mũi: m, n, n) + Phụ âm tắc (luồng hơi thoát ra đằng miệng. Trong đó phân biệt hai loại phụ âm bật hơi /t“/ và phụ âm không bật hơi /1/). - Phương thức xát: phương thức xát là phương thức phát âm mà theo đó luồng hơi trước khi thoát ra ngoài bị chặn đứng không hoàn toàn hay bị cản trở không hoàn toàn.
Nghĩa là, luồng hơi bị chặn lại nhưng nó vẫn cứ cọ xát vào bộ phận cầu âm đề thoát ra ngoài. Dựa vào vị trí luồng hơi đi ra chính giữa miệng hay hai bên mà người ta phân biệt: + Phụ âm xát (luéng hơi đi ra giữa miệng: /f, v, s, Z /) + Phụ âm bên (luéng hơi đi ra hai bên miệng: /1/) Thứ hai, dựa vào bộ phận cầu âm. Ngoài cách thức phát âm khác nhau tạo ra các phụ âm khác nhau, các phụ âm trong ngôn ngữ còn khác nhau ở vị trí của các bộ phận cấu âm. Dựa vào bộ phận cầu âm, ta có các loại phụ âm sau: - Phụ âm môi: dùng môi để phát âm.
Dựa vào tiêu điểm cấu âm ta có: + Phụ âm hai môi: /b, m/ + Phụ âm môi - răng: /f, v/ - Phụ âm lưỡi. Trong đó phân biệt: + Nhóm phụ âm đầu lưỡi (đầu lưỡi quặt /t, z, s |/ và đầu lưỡi bẹt /d, t, t*, s, z, + Nhóm phụ âm mặt lưỡi (/c, n) + Nhóm phụ âm cuối lưỡi hay gốc lưỡi (/k, x, y, 9/) - Phụ âm họng hay âm thanh hầu: /2, h/ c) Ban Gm Trong tiếng Việt, ngoài nguyên âm và phụ âm còn có âm tố bán âm, “đơn vị vừa có tính chất nguyên âm vừa có tinh chất phụ âm. Về mặt cấu âm, bán âm giỗng nguyên âm nhưng trong cấu trúc âm tiết, bán âm không bao giờ xuất hiện ở đỉnh âm 15 tiết, mà chỉ xuất hiện ở đầu hay cuối âm tiết, nghĩa là nó có chức năng như phụ âm” [5]. Ví dụ: Bán nguyên âm /w/ hoặc /u/ (chữ viết thể hiện: o hoặc u); bán nguyên âm /j/ hoặc // (chữ viết thê hiện: ¡ hoặc y).
Một số vẫn đề về chính âm, chính tả 1. Khái niệm chính âm Chính âm bao gồm nhiều khía cạnh, nhưng về cơ bản có thể xem xét một số vấn đề sau: Đầu tiên là “việc xác định và phổ biến hệ thống âm chuẩn của ngôn ngữ dân tộc” [13]. Ví dụ, khi nói về hệ thống ngữ âm của tiếng Việt, câu hỏi đặt ra là “chúng ta nên chọn hệ thống ngữ âm của vùng phương ngữ nào làm chuẩn? Hệ thống ngữ âm được lựa chọn có những ưu điểm và hạn chế gì? Cần bổ sung và xử lý như thế nào để đáp ứng đầy đủ yêu cầu” [13]. Một khía cạnh khác của chính âm là việc “xác lập hình thức ngữ âm thống nhất cho một số hình vị và từ”.
Trong Tiếng Việt, vẫn còn nhiều hình thức ngữ âm chưa thống nhất cho một số hình vị và từ. Lam thé nao dé giải quyết vấn đề này? Ví dụ, liệu chúng ta nên sử dụng "nề nếp" hay "nền nếp," "cách mạng" hay "cách mệnh," "tướng lĩnh" hay "tướng lãnh,". là những thách thức cần phải đối mặt và xử ly dé dat được sự thống nhất trong ngôn ngữ [2]. Mỗi ngôn ngữ đều có một hệ thống ngữ âm.
Hệ thống ngữ âm của mỗi ngôn ngữ thường có những biến thể nhất định. “Chính âm là hệ thống ngữ âm được xem là chuẩn của một ngôn ngữ” [21]. Tiếng Việt hiện nay đang tồn tại hai hệ thống ngữ âm: “hệ thống ngữ âm các phương ngữ và hệ thống ngữ âm chuẩn” [21].Về hệ thống ngữ âm các phương ngữ, “Tiếng Việt có 3 phương ngữ: Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ”. Về hệ thống ngữ âm chuẩn mực: cho đến nay, chưa có văn bản nào quy định về hệ thống ngữ âm chuẩn mực của tiếng Việt.
Tuy vậy, người ta mặc nhiên coi phương ngữ Bắc (tiếng Hà Nội là đại diện) và Nam (tiếng thành phố Hồ Chí Minh là đại điện) đều là chuẩn. Có nhiều ý kiến khác nhau về vẫn đề chính âm tiếng Việt: Năm 1956, Nguyễn Lân đưa ra hệ thống âm chuân tiếng Việt bao gồm “6 thanh điệu giống như trong phương ngữ Bắc Bộ”. Ông cũng đề xuất “bổ sung phụ 16 âm đầu từ phương ngữ Trung và phân biệt d và gi, cùng với hệ thống phụ âm cuối dựa trên phương ngữ Bắc”[21]. Trong khi đó, Hồng Giao (1957) và Hoàng Phê (1961) đều đề xuất việc lấy “thổ âm Hà Nội làm chuẩn, với sự bổ sung các âm đầu lưỡi quặt từ phương ngữ Trung” [13].
Các tác giả Cù Đình Tú, Hoàng Văn Thung, Nguyễn Nguyên Trứ (1972) cùng Vương Hữu Lễ (1974) đều tán thành quan điểm này, nhấn mạnh rằng hệ thống âm nên dựa trên chữ viết và điều chỉnh linh hoạt theo thực tế phát triển của Tiếng Việt ngày nay. Tổng quan, các quan điểm về hệ thống âm chuẩn tiếng Việt hiện đại từ các tác giả khác nhau có những sự khác biệt.