CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ ĐỊNH VỊ SỬ DỤNG VỆ TINH 1.1 Giới thiệu Việc định vị và dẫn đường dựa vào vệ tinh đã bắt đầu vào năm 1970. Hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu là một hệ thống vệ tinh xác định vị trí địa lý của người sử dụng ở bất kỳ nơi nào trên trái đất. Một hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu là một máy thu điện từ nhỏ có khả năng tính toán được vị trí của người sử dụng bao gồm: Kinh độ, vĩ độ và độ cao so với mặt nước biển.
Nguyên tắc để đo được các thông số vị trí này là đo khoảng thời gian tín hiệu truyền từ các vệ tinh. Hiện nay, có một số hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu khác nhau trên thế giới là United States NAVSTAR (NAVstar System with Timing and Ranging), hệ thống định vị GPS, hệ thống định vị ở Nga (GLONASS), hệ thống định vị Châu Âu (GALILEO), hệ thống dẫn đường của Trung Quốc (Beidou), hệ thống dẫn đường của Ấn Độ (IRNSS), Nhật Bản (QZSS).1 Hệ thống định vị GPS (Global Positioning System). Chương trình GPS được tán thành vào năm 1973, chương trình được phát triển bởi bộ quốc phòng của Mỹ (DoD). Vệ tinh đầu tiên được phóng vào năm 1978.
Tháng 8 năm 1993, GPS gồm 24 vệ tinh trong quỹ đạo và đến tháng 12 năm đó, năng lực hoạt động ban đầu được thành lập. Hệ thống GPS ngày nay gồm 29 vệ tinh trong quỹ đạo chuyển động. Mặc dù mục đích chính của GPS là các ứng dụng quân sự, nhưng ngày nay ứng dụng của GPS đã được mở rộng ra các thiết bị đời sống hằng ngày. Các ứng dụng chủ yếu là định vị 3D, tính toán thời gian, biên độ và tốc độ cho các công việc như khảo sát, bản đồ, xây dựng và các ứng dụng trong đời sống hằng ngày như định vị hàng không, định vị dưới đại dương và định vị viễn thông….Dưới đây là phần thảo luận về hệ thống GPS.1 Lý thuyết cơ bản về máy thu GPS Để hiểu được làm thế nào mà máy thu GPS có thể xác định được vị trí của nó, chúng ta sẽ xem ví dụ dưới đây: Đầu tiên, chúng ta sẽ bắt đầu với một ví dụ đơn giản, một người có vị trí trên trục X và được định nghĩa là U.
Nếu như vị trí của vệ tinh là S1 và khoảng của nó so với vệ tinh là x1 về cả hai phía thì vị trí của người này có thể ở bên trái hay bên phải của S1. Do đó, để xác định được vị trí của người này ta cần phải xác định được x2 là khoảng cách của người này với vệ tinh khác được yêu cầu. 2 Luan van Xây dựng phương pháp hỗ trợ định vị chính xác Hình 1.1 Vị trí của người sử dụng trong không gian một chiều. Một ví dụ khác với không gian hai chiều, để xác định được vị trí của người đó cần phải có ba vệ tinh và ba khoảng cách được yêu cầu.
Vị trí của người sử dụng trong không gian hai chiều.2 đã chỉ ra vị trí của người đó trong không gian hai chiều, ở hình 1.a, hai vệ tinh (S1,S2) và hai khoảng cách (x1,x2) đưa ra hai đáp án vì hai vòng tròn này giao nhau tại hai điểm. Do đó, vệ tinh thứ ba S3 cùng với khoảng cách x3 sẽ xác định được chính xác vị trí của người đó.b chỉ ra vị trí chính xác của U. Từ hai ví dụ trên đây, ta có thể thấy dễ dàng để có thể hiểu được trường hợp không gian ba chiều thì việc xác định vị trí của U sẽ như thế nào. Trong trường hợp đó, ta cần 4 vệ tinh cùng với 4 khoảng cách tương ứng và khi đó hình biểu diễn sẽ là một quả cầu trong không gian ba chiều.
Hai quả cầu sẽ giao nhau tạo thành một đường tròn. Hình tròn đó giao quả cầu khác tại hai điểm, giống như trường hợp không gian hai chiều. Cuối cùng để xác định chính xác vị trí của U thì cần hơn một vệ tinh nữa. Do vậy, trong không gian ba chiều, GPS cần ít nhất 4 vệ tinh để xác định vị trí của một người.2 Sự phân khu vực trong hệ thống GPS.
Hệ thống GPS gồm 3 phần: Phần không gian (Space Segments), phần điều khiển (Control Segments), phần người sử dụng (User Segments). 3 Luan van Xây dựng phương pháp hỗ trợ định vị chính xác Hình 1. Sơ đồ quan hệ giữa ba phần trong hệ thống GPS. Space Segments: Có chức năng là mang xung đồng hồ và tín hiệu tần số L1 (1575.42 MHz) bao gồm mã C/A (Coarse Acquisition) và mã P(Y).
Các vệ tinh cũng mang tín hiệu tần số L2 (1227. Phần không gian của GPS bao gồm 24 vệ tinh nhân tạo (được gọi là satellite vehicle-SV, tính đến thời điểm 1995). Quỹ đạo chuyển động của vệ tinh nhân tạo xung quanh trái đất là quỹ đạo tròn, 24 vệ tinh nhân tạo chuyển động trong 6 mặt phẳng quỹ đạo. Mặt phẳng quỹ đạo vệ tinh GPS nghiêng so với mặt phẳng xích đạo một góc 55 độ.
Hình 4 minh họa chuyển động của vệ tinh GPS xung quanh trái đất. Từ khi phóng vệ tinh GPS đầu tiên được phóng vào năm 1978, đến nay đã có bốn thế hệ vệ tinh khác nhau. Thế hệ đầu tiên là vệ tinh Block I, thế hệ thứ hai là Block II, thế hệ thứ ba là Block IIA và thế hệ gần đây nhất là Block IIR. Thế hệ cuối của vệ tinh Block IIR được gọi là Block IIR-M.
Những vệ tinh thế hệ sau được trang bị thiết bị hiện đại hơn, có độ tin cậy cao hơn, thời gian hoạt động lâu hơn. Vệ tinh thế hệ đầu Block I được cho trong Hình 1. Vệ tinh đầu tiên của thế hệ mới Block IIR-M1 (mới được phóng vào tháng 12 năm 2005) được cho trong Hình 1. 4 Luan van Xây dựng phương pháp hỗ trợ định vị chính xác Hình 1.
GPS IIR được phóng vào tháng 9 năm 2005. Control Segments: Gồm có 4 trạm thu tín hiệu phát đi từ vệ tinh (Monitor Station) và một trạm chủ (Master Control) để phát tín hiệu lên vệ tinh. Bốn trạm thu được đặt ở các địa điểm khác nhau trên khắp thế giới: Một được đặt tại đảo Hawaii, một trên đảo Kwajalein (Thái Bình Dương); một được đặt trên đảo Diego Garcia (Ấn Độ Dương) và một trạm được đặt ở đảo Ascension (Đại Tây Dương). Trạm chủ được đặt tại trại Falcon của Không Lực Hoa Kỳ tại Bang Colorado.
Bốn trạm thu tín hiệu có nhiệm vụ thu tín hiệu chứa thông tin về quỹ đạo và thời gian từ vệ tinh gửi về sau đó gửi nhưng thông tin này cho trạm chủ. Trạm chủ sẽ hiệu chỉnh những thông tin nhận được và gửi lại những thông tin đã được hiệu chỉnh lên vệ tinh để điều chỉnh quỹ đạo bay và đồng bộ thời gian cho các vệ tinh cùng với thông tin về sự suy hao đường truyền. User Segments: Đây là thành phần cuối cùng trong hệ thống GPS. Vì tín hiệu từ vệ tinh GPS được phát quảng bá trên toàn bộ trái đất nên số lượng máy thu GPS là không giới hạn.
Phần người sử dụng sẽ thu các tín hiệu mang thông tin về cự ly, thời gian, trễ truyền sóng được phát xuống từ 4 vệ tinh để xác định vị trí cũng như tốc độ của mình.3 Hệ thống GPS hiện đại. Để phục vụ sự tăng lên của nhu cầu người sử dụng trong hai thập niên gần đây cùng với sự phát triển của các hệ thống định vị vệ tinh khác đặc biệt là GALILEO, chính quyền Mỹ đã tạo ra một sự cải thiện công suất làm việc của hệ thống GPS. Hệ thống GPS hiện đại bao gồm tín hiệu thường, L5 (1176.45 MHz) với mục đích là an toàn cuộc sống cho các thiết bị đời sống hằng ngày. Có thêm hai tín hiệu trong hệ thống GPS hiện đại là L3 (1381.05 MHz) được sử dụng để phòng chống sự bùng nồ hạt nhân và tín hiệu L4 (1379.45 MHz) dùng để hiệu chỉnh thuộc về tầng điện ly.
5 Luan van Xây dựng phương pháp hỗ trợ định vị chính xác 1.2 Hệ thống định vị GALILEO. Vào năm 1998, cơ quan vũ trụ châu âu European Space Agency (ESA) và liên hiệp châu âu European Commission đã quết định nghiên cứu một hệ thống định vị vệ tinh riêng cho khu vực châu âu. Cũng giống như các hệ thống GNSS khác, GALILEO cũng gồm 3 thành phần chính là: -Trạm không gian (Space Segment). -Trung tâm điều khiển (Control Segment).
Trạm không gian bao gồm 30 vệ tinh với 27 vệ tinh hoạt động và 3 vệ tinh đảm bảo khi có sự cố. Các vệ tinh sẽ di chuyển với quỹ đạo tròn có góc nghiêng 56 o. Thời gian đi hết 1 quỹ đạo của 1 vệ tinh là 14 giờ. Hệ thống định vị toàn cầu Galileo.
Vệ tinh trong hệ thống định vị Galileo. Với giới hạn của đề tài, chúng ta chỉ đi sâu vào L1 OS signal (OS là giành cho thiết bị mở). Tín hiệu L1 OS được mong chờ là sẽ đảm bảo được độ chính xác theo chiều ngang là hơn 15m và chiều thẳng đứng là 35m, độ chính xác về vận tốc 6 Luan van Xây dựng phương pháp hỗ trợ định vị chính xác là tốt hơn 50cm/s và độ chính xác về thời gian là tốt hơn 100ns. Đối với một máy thu tần số kép thì độ chính xác về các đại lượng trên tương ứng là: 7m, 15m, 20cm/s, 100ns.
Tất cả các vệ tinh Galileo đều sử dụng một dải tần số khác nhau và đều sử dụng công nghệ CDMA. Tín hiệu trải phổ sẽ được truyền bao gồm các mã sắp xếp khác nhau trên mỗi tín hiệu, mỗi tần số và mỗi vệ tinh. Tất cả các tín hiệu đều được truyền ở phía sự phân cực tròn bên phải. Tín hiệu L1 OS được truyền ở tần số f1=1575.
Tín hiệu gồm 3 kênh gọi là A, B và C. L1-A giống với L1 PRS (PRS giành cho các thiết bị điều hòa công cộng), là một tín hiệu truy cập giới hạn. Các ranging code và thông tin dẫn đường được chuyển thành mật mã. Tín hiệu dữ liệu là L1-B và tín hiệu dữ liệu tự do L1-C.
Một tín hiệu dữ liệu tự do cũng được gọi là tín hiệu hoa tiêu, nó chỉ được tạo bởi ranging code, không được điều chế bởi một dòng dữ liệu dẫn đường. Tín hiệu L1 OS có chiều dài mã là 4092 với một tốc độ chip là 1.023 MHz, đưa ra một tốc độ lặp lại là 4ms.1 Cấu trúc của hệ thống Galileo. Sơ đồ cấu trúc của hệ thống Galileo. Hệ thống bao gồm: -GCS: Galileo Control System.
-GMS: Galileo Mission System. -GCC: Galileo Control Center. -TT&C: Telemetry, Tracking and Command Station. 7 Luan van Xây dựng phương pháp hỗ trợ định vị chính xác -GSS: Galileo Sensor Station.
-ULS: Uplink Station.